NGUỒN GỐC CỦA ĐẠO PHẬT THIỀN TÔNG

17
578

(Trích trong thư gửi Pháp chủ Giáo chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ – 19/05/2019)

NGUỒN GỐC CỦA ĐẠO PHẬT THIỀN TÔNG

Trong quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông, Đức Phật có dạy về Long Nữ dạy thành Phật như sau:
Năm Thái tử Tất Đạt Đa 24 tuổi có đến nước Văn Lang dự lễ ngài Hùng Nghị Vương lên ngôi vua Hùng Vương đời thứ 17. Khi dự lễ xong, Thái tử Tất Đạt Đa được vua Hùng Nghị Vương tiếp ở Long Cung tức cung vua của nước Rồng được Vua Hùng Nghị Vương tặng cho Thái tử Tất Đạt Đa một viên Ngọc Minh Châu. Tất nhiên, Ngọc ở trong tối tự phát sáng để làm đèn ngủ, Thái tử Tất Đạt Đa không mang về nước Ca Tỳ La Vệ mà Thái tử tặng lại cho con của vua Hùng Nghị Vương là Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan mới có 8 tuổi và dạy Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan như sau:
Viên Ngọc Minh Châu này là Viên Ngọc có công dụng xua đi bóng tối. Thái tử tôi nói cho Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan biết, nước Rồng của Công chúa Long Nữ đến đời Mạt Pháp trở đi, người dân nước Rồng không ai còn Chánh tín nữa mà Mê tín có đến 80%, họ Mê tín như sau:
1/- Đạo Thần lập ra để dạy tu thành Thần mà tưởng là tu để Giác ngộ.
2/- Đạo Tiên lập ra là để dạy tu thành Tiên mà tưởng là tu để Giải thoát.
3/- Đạo Trời lập ra để dạy tu lên nước Thiên Đàng ở hưởng sung Sướng mà tưởng tượng để Giải thoát.
4/- Đạo Thánh lập ra để dạy tu thành Thánh mà tưởng tu để Giải thoát.
5/- Đạo Mẫu lập ra là để tu làm con của Mẫu mà cũng tưởng là tu để Giải thoát.
– v.v…
Thái tử Tất Đạt Đa có trình Quốc vương Hùng Nghị Vương như sau:
Kính thưa Quốc Vương, hôm nay Thái tử tôi đến nước Văn Lang dự lễ Quốc vương lên ngôi và cũng có một việc như sau:
– Thái tử tôi xin nhờ Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan giúp tôi một việc, xin Quốc vương cho phép Công chúa Long Nữ giúp Thái tử tôi có được không?
Quốc vương Hùng Nghị Vương nói với Thái tử Tất Đạt Đa:
– Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan mới có 8 tuổi thì làm sao Công chúa Long Nữ tiếp nhận lời nhờ của Thái tử được?
Thái tử Tất Đạt Đa liền trình với Quốc vương Hùng Nghị Vương:
– Kính thưa Quốc Vương Hùng Nghị Vương! Thái tử Tất Đạt Đa tôi xin cho Quốc vương biết sự thật về con người của Thái tử tôi. Thái tử tôi là Bồ Tát Thường Hộ Minh từ Nội viện cung Trời Đâu Suất xuống trần gian này để thành lập Đạo Giác ngộ và Giải thoát giúp cho loài người ai muốn trở về Phật giới biết đường trở về.
Quốc vương Hùng Nghị Vương cười và nói với Thái tử Tất Đạt Đa:
– Này Thái tử Tất Đạt Đa, trẫm là vua của nước Văn Lang này, tin bất cứ chuyện gì cũng phải thực tế. Nếu Thái tử chứng minh Thái tử là Bồ Tát từ cõi Trời Đâu Suất xuống trần gian này lập Đạo Giác ngộ và Giải thoát thì Thái tử hãy chứng minh tài năng của Thái tử thật rõ ràng thì Quốc vương tôi mới tin.
Quốc vương Hùng Nghị Vương nói với tiếp với Thái tử Tất Đạt Đa:
– Trẫm là Hùng Nghị Vương là vua của nước Văn Lang này gọi là vua Hùng Vương đời thứ 17. Nếu Thái tử là vị Bồ Tát thì hãy kể:
+ 16 đời vua Hùng Vương trước là ai?
+ Tương lai của nước Văn Lang này còn tiếp nối mấy đời nữa?
– Nếu Thái tử trình bày 16 đời vua Hùng Vương trước mà đúng thì trẫm tin Thái tử là Bồ Tát Thường Hộ Minh từ Nội viện cung Trời Đâu Suất xuống trần gian này lập Đạo Giác ngộ và Giải thoát thì Thái tử muốn nhờ Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan việc gì Quốc Vương tôi chấp thuận và tổ chức đúng theo nghi lễ của nước Văn Lang của trẫm.
Thái tử Tất Đạt Đa liền đứng lên kể về 16 đời vua Hùng như sau:
(1): Đời vua Hùng Vương thứ nhất không phải là vua Hùng Vương mà chỉ là một vị Trưởng Bộ lạc thật lớn ở vùng này mà thôi.
Kính thưa Quốc Vương Hùng Nghị Vương! Ngài muốn biết lịch sử của nước Ngài thì xin Quốc Vương cho Thái tử tôi nói ba thời ở Trái đất này, gồm:
– Một là hiện tại.
– Hai là quá khứ.
– Ba là tương lai.
Thì mới rõ Ngài được.
Quốc Vương Hùng Nghị Vương gật đầu. Thái tử Tất Đạt Đa kể:
Về hiện tại, thời buổi của chúng ta sống gọi là: Thời kỳ Đồ Đồng, văn minh cao nhất là sản xuất được vật dụng và vũ khí bằng Đồng mà thôi. Còn thời gian thì mỗi Quốc gia tính được riêng, Quốc gia này không giống Quốc gia kia.
Về tương lai, đúng 544 năm nữa, ở phía Tây núi Hy Mã Lạp Sơn có một vị Thánh danh gọi là Jesus Christ có đứng ra thành lập một Đạo gọi là Đạo Thiên Chúa. Đạo Thiên Chúa này là một Tôn giáo rất đúng nghĩa mà có năm phần như sau:
1/- Giáo Lý của Đạo Thiên Chúa dạy rất hay.
2/- Giáo Lễ của Đạo Thiên Chúa dạy rất tuyệt.
3/- Giáo Điều của Đạo Thiên Chúa dạy rất phải.
4/- Giáo Kinh của Đạo Thiên Chúa dạy rất rõ ràng.
5/- Giáo Luật của Đạo Thiên Chúa dạy rất nghiêm minh.v.v…
Nói tóm lại là Đạo Thiên Chúa là Đạo chuẩn mực nhất ở Trái đất này. Vì vậy, khi Đạo Thiên Chúa ra đời, rất nhiều người ở thế giới này tu theo. Cái đặc biệt nhất của Đạo Thiên Chúa là Thánh Jesus Christ dạy Đạo Thiên Chúa có ba ngôi như sau:
– Ngôi thứ nhất: Đức Chúa Trời cũng gọi là Thượng Đế hay vị Sáng Chế tức vị sáng lập ra sáu phần, gồm:
1/- Sáng lập ra Càn khôn vũ trụ.
2/- Sáng lập ra Hệ mặt trời.
3/- Sáng lập ra Trái đất.
4/- Sáng lập ra các Ngôi sao.
5/- Sáng lập ra Vạn vật ở Trái đất này.
6/- Sáng lập ra con người ở Trái đất này.
Thái tử tôi xin kể lời dạy của vị Thánh Jesus Christ, như sau:
Đầu tiên, Đức Chúa Trời (tức Thượng Đế) sử dụng hai hạt hít âm dương cho hít cứng với nhau thành ra con người rồi cho vào người này một cái gọi là Linh hồn để làm sự sống. Đức Chúa Trời cho hạt hít dương nhiều thì sanh ra người nam, Đức Chúa Trời cho hạt hít âm nhiều thì sanh ra người Nữ.
– Đặt danh cho người Nam là ông Adam.
– Đặt danh cho người Nữ là bà Eva.
Hai ông bà này gọi là Thủy Tổ loài người ở Trái đất này.
Kính thưa Quốc Vương! Hiện nay nước Văn Lang ngài đang sử dụng chung tiếng với nước Yên là nước hùng mạnh nhất của sáu nước Vua Hùng này, gồm:
1/- Nước Hàn.
2/- Nước Triệu.
3/- Nước Ngụy.
4/- Nước Sở.
5/- Nước Yên.
6/- Nước Tề.
Kính thưa Quốc Vương! Đến đời Mạt pháp, nước Rồng của Ngài không còn sử dụng tiếng của người phương Đông nữa mà sử dụng tiếng của người Latinh do Đạo Thiên Chúa này đem đến. Từ khi đạo Thiên Chúa lập ra, thời gian ở Trái đất này sử dụng cho toàn cầu, gồm:
Trước Đạo Thiên Chúa gọi là trước Công Nguyên (TCN), sau Đạo Thiên Chúa gọi là sau Công Nguyên (SCN). Lấy mốc thời gian này, Thái tử Tất Đạt Đa tôi xin kể về tổ tiên của nước Văn Lang như sau:
* Một: Đầu tiên nước Văn Lang này gọi là nước Xích Quỷ. Câu chuyện ấy như sau:
Nước Văn Lang này là một Bộ lạc rất lớn, danh hiệu là Kinh Dương Vương do Ngài Kinh Dương Vương làm Trưởng Bộ lạc. Xung quanh Bộ lạc này có nước Yên rất hà khắc và tham vọng rất nhiều bắt các Bộ lạc xung quanh có vật gì quý hay gái đẹp thì phải đem dâng nạp cho nước Yên này.
Ông Kinh Dương Vương là Trưởng Bộ lạc này mới đứng lên tuyên bố như sau:
Bộ lạc Kinh Dương Vương ta nay thành lập nước là Xích Quỷ tức nước của loài Quỷ dữ. Kẻ nào áp bức, hà khắc nước Xích Quỷ ta, ta sẽ xé xác và moi gan, tim của kẻ đó ra dù kẻ đó là Vua hay Quan.
Vì Ngài Kinh Dương Vương tuyên bố quá mạnh như vậy nên nước Xích Quỷ của ngài yên ổn và tồn tại đúng 85 năm. Vì có công trạng này nên được ông Lạc Long Quân và vợ là bà Âu Cơ suy tôn vua Hùng Vương đời thứ nhất.
* Hai: kế tiếp, ông Lạc Long Quân và vợ là bà Âu Cơ tiếp quản nước Xích Quỷ này đổi ra nước Văn Lang và tuyên bố như sau:
– Ta là Rồng ở trên trời xuống đây tiếp nhận nước Xích Quỷ này đổi danh là nước Văn Lang tức nước có Văn học thật cao và làm Vua nước này.
– Vợ ta là Hoàng hậu Âu Cơ cũng là Tiên ở trên Trời xuống trần gian này mang theo 100 trứng Rồng, khi trứng Rồng nở ra thành 100 con người (50 người Nam, 50 người Nữ).
– 100 con của ta giữ nước Văn Lang này. Nước Văn Lang này được gọi là “Nước Rồng”. Dân tộc nước Văn Lang này gọi là “Dân tộc Rồng Tiên”.
+ Người Nam dân tộc Rồng Tiên này gọi là “Long Nam”.
+ Người nữ dân tộc Rồng Tiên này gọi là “Long Nữ”.
Ngài Lạc Long Quân và vợ là bà Âu Cơ xưng Vương và có tuyên bố 4 phần:
1/- Người làm vua nước Văn Lang này gọi là vua Hùng Vương.
2/- Nước Văn Lang này gọi là Nước Rồng.
3/- Người Nam Nước Rồng gọi là Long Nam, người Nữ nước Rồng gọi là Long Nữ.
(2) Ngài Lạc Long Quân xưng mình là vua Hùng Vương đời thứ 2. Ngài và con cháu trị vì nước Văn Lang này được 268 năm.
– Ngài Lạc Long Quân và vợ là bà Âu Cơ suy tôn ngài Kinh Dương Vương là vua Hùng Vương đời thứ nhất.
(3) Vua Hùng Vương đời thứ 3 là ngài Hùng Lân Vương, ngài và con cháu trị vì được 271 năm.
(4) Vua Hùng Vương đời thứ 4 là ngài Hùng Diệp Vương, ngài và con cháu trị vì được 339 năm.
(5) Vua Hùng Vương đời thứ 5 là ngài Hùng Hi Vương, ngài và con cháu của ngài trị vì được 199 năm.
(6) Vua Hùng Vương đời thứ 6 là ngài Hùng Huy Vương, ngài và con cháu trị vì được 80 năm.
(7) Vua Hùng Vương đời thứ 7 là ngài Hùng Chiêu Vương, ngài và con cháu trị vì được 199 năm.
(8) Vua Hùng Vương đời thứ 8 là ngài Hùng Vĩ Vương, ngài và con cháu trị vì được 99 năm.
(9) Vua Hùng Vương đời thứ 9 là ngài Hùng Định Vương, ngài và con cháu trị vì được 79 năm.
(10) Vua Hùng Vương đời thứ 10 là ngài Hùng Hỷ Vương, ngài và con cháu trị vì được 99 năm.
(11) Vua Hùng Vương đời thứ 11 là ngài Hùng Trinh Vương, ngài và con cháu trị vì được 106 năm.
(12) Vua Hùng Vương đời thứ 12 là ngài Hùng Vũ Vương, ngài và con cháu trị vì được 85 năm.
(13) Vua Hùng Vương đời thứ 13 là ngài Hùng Việt Vương, ngài và con cháu trị vì được 114 năm.
(14) Vua Hùng Vương đời thứ 14 là ngài Hùng Anh Vương, ngài và con cháu trị vì được 98 năm.
(15) Vua Hùng Vương đời thứ 15 là ngài Hùng Triệu Vương, ngài và con cháu trị vì được 93 năm.
(16) Vua Hùng Vương đời thứ 16 là ngài Hùng Tạo Vương, ngài và con cháu trị vì được 101 năm.
(17) Vua Hùng Vương đời thứ 17 là ngài Hùng Nghị Vương, ngài và con cháu trị vì được 159 năm.
Từ nước Xích Quỷ đến đời Quốc Vương lên ngôi trị thì nước Xích Quỷ và nước Văn Lang tồn tại 2415 năm. Còn hết triều đại Vua Hùng Vương là 2724 năm.
(18) Vua Hùng Vương đời thứ 18 là ngài Hùng Duệ Vương, ngài và con cháu trị vì được 150 năm.
Nghe Thái tử Tất Đạt Đa trình bày 18 đời vua Hùng Vương quá rõ nên Hùng Nghị Vương nói với Thái tử Tất Đạt Đa:
– Quốc Vương tôi kính phục! Thái tử là vị toàn năng toàn giác không sai. Vậy, Quốc Vương tôi xin mời Thái tử và tất cả mọi người có mặt sang phòng Nghi lễ để Thái tử muốn dạy Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan những gì mà Thái tử muốn dạy.
Thế là tất cả những người có mặt đều được mời sang phòng Nghi lễ để Thái tử Tất Đạt Đa nhờ Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan.
Sắp đặt và tổ chức lễ tại phòng Nghi lễ, gồm:
– Hàng ghế cao nhất là nơi Vua Hùng Vương đời thứ 17 là Hùng Nghị Vương ngồi.
– Bên phải Vua Hùng Nghị Vương là Hoàng hậu Lý Huệ Phương.
– Bên trái Vua Hùng Nghị Vương là Thái tử Tất Đạt Đa.
– Quỳ dưới chân 3 vị là Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan.
– Hàng ghế bên tả của Vua Hùng Nghị Vương là những viên chức Nam và Long Nam trong triều ngồi.
– Hàng ghế bên hữu vua Hùng Nghị Vương là những viên Chức Nữ và Long Nữ trong triều ngồi.
Sắp xếp nghi lễ đã xong, vua Hùng Nghị Vương liền nói:
– Phần nghi lễ đã xong, vậy Thái tử muốn nói lại Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan những gì, xin mời Thái tử nói và nhờ Công chúa Long Nữ.
Vua Hùng Nghị Vương nói với Công chúa Long Nữ:
– Này Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan! Con cố lắng nghe Thái tử dạy.
Công chúa Long Nữ trình thưa:
– Kính thưa Phụ vương và Mẫu hậu, con xin cố gắng nghe Thái tử Tất Đạt Đa dạy. Công chúa Long Nữ tôi lắng nghe Thái tử Tất Đạt Đa dạy, vậy xin mời Thái tử.
Thái tử Tất Đạt Đa liền đứng dậy nói:
– Kính thưa Quốc Vương và Hoàng hậu, trước Thái tử Tất Đạt Đa tôi xin chân thành cảm ơn Quốc Vương và Hoàng hậu đã cho phép Long Nữ tiếp nhận lời nhờ của Thái tử tôi. Sau, xin cảm ơn Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan đã nhận lời Thái tử tôi nhờ. Thái tử Tất Đạt Đa tôi xin nói rõ đôi lời như sau:
Đời trước, tôi là Thái tử Thường Hộ Minh là con của Chúa Trời Thường Hộ Quân cai quản cõi Trời Đâu Suất ở vòng một Tam giới, Mẫu hậu tôi là Uất Hạnh Phương. Tôi ở cõi Trời Đâu Suất này được Đức Phật Nhiên Đăng dạy tôi hiểu biết tất cả những gì có trong:
– Càn khôn vũ trụ.
– Phật giới.
– Tam giới.
– Trái đất, con người, vạn vật. Nhỏ nhất là vi trần, lớn nhất là hành tinh.
– Cõi hữu hình.
– Cõi vô hình.
– Tại sao có luân hồi?
– Lý do gì có nhân quả?
– Ở Trái đất này tu hành để được gì?
– Muốn thoát ra ngoài Trái đất và Tam giới phải làm sao?
– v.v…
Ở Trái đất này, người nào hiểu biết tất cả những phần nói trên được danh gọi là người Toàn năng Toàn giác.
Hôm nay, Thái tử Tất Đạt Đa tôi đến nước Văn Lang này nhờ Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan giúp Thái tử Tất Đạt Đa tôi 4 phần việc như sau:
1/- Xin Công chúa Long Nữ nhận 5 quyển sách này.
2/- Xin Công chúa Long Nữ đọc hết 5 quyển sách này.
3/- Xin Công chúa Long Nữ đọc hết 5 quyển sách này, khi nào Phật Nhãn mở ra thì mới thôi.
4/- Xin Công chúa Long Nữ cất giữ 5 quyển sách này để đến đời Mạt Pháp đem ra sử dụng.
Nghe Thái tử Tất Đạt Đa dạy Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan đến đây, vua Hùng Nghị Vương xen vào hỏi Thái tử Tất Đạt Đa như sau:
– Trẫm có thắc mắc như sau, Thái tử hãy giải thích cho Trẫm cũng như Hoàng hậu Lý Huệ Phương và những người có mặt ở đây biết sáu phần như sau:
– Phần 1: Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan mới có 8 tuổi, làm sao nó nhớ hết được?
– Phần 2: sao Thái tử không chọn nước khác mà lại chọn nước Rồng của trẫm?
– Phần 3: nước Rồng của Trẫm có gì đặc biệt mà Thái tử chọn?
– Phần 4: Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan tiền kiếp nó là ai, hậu kiếp sống ở đâu?
– Phần 5: Thái tử lập Đạo Giác ngộ và Giải thoát, cớ sao không dạy trong các kinh điển phổ thông?
– Phần 6: Thái tử lập Đạo Giác ngộ và Giải thoát, các đời sau thiếu gì đệ tử lớn học vấn nhiều có bằng cấp cao, sao không giao cho những người này mà lại giao cho Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan?
Thái tử Tất Đạt Đa lần lượt trả lời 6 câu hỏi của vua Hùng Nghị Vương.
– Phần 1: kính thưa Quốc Vương! Ở Trái đất này, người nào đọc sách dạy về Giác ngộ và Giải thoát mà kiến bằng Tánh Phật của chính mình thì người này hiểu được tất cả những gì có ở Trái đất này, Tam giới, Phật giới, Càn khôn Vũ trụ, nhân quả luân hồi, v.v…
Vì vậy, Thái tử tôi mới bảo Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan đọc sách khi nào Kiến bằng Tánh Phật mới thôi.
Ở Trái đất này, người nào mà Kiến bằng Tánh Phật dù có luân hồi bất cứ đâu trong Tam giới này, khi nghe đến Giác ngộ và Giải thoát tự nhiên tìm đến học và nhớ tất cả những gì mà mình đã Kiến bằng Tánh Phật dù cách thời gian bao lâu cũng nhớ. Vì vậy, Thái tử tôi mới nhờ Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan là vậy.
– Phần 2: Sở dĩ Thái tử tôi không chọn nước khác mà chọn nước Rồng của Quốc Vương là có bốn nguyên do như sau:
1/- Dân tộc của Quốc Vương rất gan dạ, không sợ bất cứ một thế lực nào dù nước đó có mạnh đến đâu đi nữa, điển hình là khi lập Quốc.
2/- Có ngài Kinh Dương Vương tuyên bố quá mạnh làm các nước lân bang khiếp sợ không dám động đến nước của ngài.
3/- Có ngài Lạc Long Quân tuyên bố mình là Rồng trên Trời xuống Trái đất này làm Vua Hùng Vương.
4/- Vợ là bà Âu Cơ dám tuyên bố mình là Tiên trên Trời mang 100 trứng Rồng xuống đây để sanh ra 50 Long Nam, sanh ra 50 Long Nữ.
Ở Trái đất này, không có nước nào dám nói đến chuyện này chứ nói chi đến tuyên bố. Nước Rồng có đặc biệt thông minh như thế nên Thái tử Tất Đạt Đa tôi chọn là vậy.
– Phần 3: nước Rồng của Quốc Vương có 7 phần đặc biệt nên Thái tử tôi chọn.
1/- Ở trên Trái đất này, không triều đại nào tồn tại lâu 2724 năm như nước Văn Lang của Quốc Vương.
2/- Đến đời Mạt pháp trở đi, nước của Quốc Vương sử dụng văn tự thông minh nhất thế giới. Có nghĩa là chữ đánh vần được, không giống như chữ của nước tôi và nước ngài hiện tại là phải học cho thông mặt chữ chứ không đánh vần.
3/- Về danh tài Quân sự, nước Rồng của ngài có nhiều danh tài Quân sự nhất thế giới.
4/- Về danh tài văn thơ, nước Rồng của ngài có nhiều danh tài văn thơ nhất thế giới.
Vì vậy, khi Pháp môn thứ sáu là Đạo Phật Thiền Tông ra đời, không sách nào chứa hết văn thơ của những người ngộ Thiền viết ra. Đến đời Mạt pháp, dân nước Rồng sống khắp năm Châu.
Vì vậy, khi quyển Huyền ký của Thái tử tôi công bố ra tại nước Rồng, 5 phút sau là cả thế giới biết.
Vì dân tộc nước Rồng rất gan dạ nên quyển Huyền ký của Thái tử tôi phải chọn nước Rồng công bố ra.
Vì nước Quốc Vương có 7 đặc điểm như vậy nên Thái tử tôi chọn nước Rồng của Ngài để công bố quyển Huyền ký bí mật truyền theo dòng Thiền tông là vậy.
Thái tử tôi cũng xin cho Quốc Vương biết một điều đặc biệt nữa, đến đời Mạt pháp, nước Rồng này sẽ có một vị vua tu theo Pháp môn Đạo Phật Thiền Tông của Thái tử tôi phổ biến ra. Vị vua này tu được thành Phật nên nhân dân nước Rồng gọi ngài là Phật Hoàng tức Vua Phật mà trên thế giới chưa có một Quốc gia nào có. Vì vậy, Thái tử tôi rất khâm phục vị vua này. Vì lý do đó mà Thái tử tôi chọn nước Rồng là vậy.
– Phần 4: tiền kiếp thời Đức Phật Ca Diếp, Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan đã từng giúp vị Phật này công bố Giác ngộ và Giải thoát. Hậu kiếp của Công chúa Long Nữ là nhờ con phổ biến và công bố Pháp môn Giác ngộ và Giải thoát mới được thành công. Nếu không phải con của Long Nữ thì không thể công bố ra được. Vì vậy nên Thái tử tôi chọn nước Rồng là vậy.
– Phần 5: Thái tử tôi lập ra đạo Giác ngộ và Giải thoát mà không dạy trong các kinh điển phổ thông là có bốn nguyên do như sau:
1/- Trái đất này gọi là Trái đất luân hồi tức luân chuyển một vòng 365 ngày rồi trở về chỗ cũ gọi là Luân hồi.
2/- Trái đất này luân chuyển nên sanh ra nhân quả. Vì vậy, con người và vạn vật sống trên Trái đất này bắt buộc phải sống theo quy luật nhân quả và luân hồi của Trái đất.
3/- Tất cả kinh điển phổ thông, Thái tử tôi viết theo công thức nhân quả. Vì vậy, không đem Pháp môn thứ sáu này vào kinh điển phổ thông được mà phải bí mật truyền ngoài kinh điển phổ thông là vậy.
4/- Đến đời Mạt pháp, vật chất ở Trái đất này rất dồi dào nên có nhiều người lợi dụng Đạo của Thái tử tôi tu để kiếm tiền nên các ngài tu này nghe Thái tử tôi dạy Giác ngộ và Giải thoát là họ chửi thì làm sao Thái tử tôi dạy trong các kinh phổ thông được?
– Phần 6: Thái tử tôi lập ra Đạo Giác ngộ và Giải thoát, các đời sau có rất nhiều người tu theo Đạo của tôi. Có rất nhiều người tu lâu năm có bằng cấp cao mà Thái tử tôi không giao cho những môn đồ này mà lại giao cho Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan là có nguyên do như sau:
Thời Mạt Pháp, hầu hết người tu theo Đạo Thái tử tôi có ba dạng người:
1/- Là dạng vào Đạo tôi tu để kiếm danh.
2/- Là vào Đạo tôi tu để kiếm tiền.
3/- Là vào Đạo tôi tu để kiếm địa vị.
Còn người tu để Giác ngộ và Giải thoát, một triệu người tu chưa chắc đã có được 1 người muốn tu Giác ngộ, còn Giải thoát thì thật là xa vời.
Thái tử Tất Đạt Đa tôi muốn nói cho Quốc Vương biết.
– Ở Trái đất này, do sức hút vật lý của điện từ âm dương. Nếu người nào thân họ dương quá thì họ thích nói chuyện trên Trời để lừa gạt những người thích mơ mộng ở các cõi Trời để lấy tiền. Nếu người nào thân họ âm quá thì họ thích làm những chuyện như sau:
+ Họ thích cầu xin và lạy người khác xin Phước hay đổ Phước vào đầu của họ.
+ Thích tu hành có thần thông hay chứng đắc ở Trái đất này.
+ Thích nghe những người nói chuyện linh thiêng huyền bí.
Thái tử Tất Đạt Đa trả lời hết 6 phần câu hỏi của vua Hùng Nghị Vương. Thái tử có 24 câu thơ tặng cho Quốc Vương Hùng Nghị Vương, Hoàng hậu Lý Huệ Phương và Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan, thơ rằng:
Tôi xin cảm ơn Vua Hùng
Cho phép Long Nữ nhận phần Thiền tông
Sau này phổ khắp núi sông
Pháp môn thứ sáu phổ trong nước Rồng.

Nước Rồng là nước Lạc Hồng
Có tài có đức non sông vững bền
Đông, Nam, Long Nữ đứng lên
Giữ gìn đất nước vượt trên vùng này.

Thái tử Tất Đạt đến đây
Vừa giao nhiệm vụ ơn này không quên
Cảm ơn Hoàng hậu Văn Lang
Sanh ra Long Nữ thế gian sáng ngời.

Nước Rồng công lớn thấu trời
Chỉ đường nhân loại người người bước đi
Bước đi về chốn Quê thì
Không còn nhân quả có gì bằng đâu.

Cảm ơn Vua Hùng Văn Lang
Quê hương tươi đẹp hơn vàng hơn son
Nhìn khắp khung cảnh núi non
Non sông tuyệt đẹp muôn ngàn xinh tươi.

Vua Hùng dựng nước Văn Lang
Giang sơn tươi đẹp vẻ vang sáng ngời
Con cháu giữ nước ngàn đời
Cơm no áo ấm muôn đời vẻ vang.

Nghe Thái tử Tất Đạt Đa đọc 24 câu thơ, vua Hùng Nghị Vương, Hoàng hậu Lý Huệ Phương, Công chúa Long Nữ Hùng Thúy Loan, các viên chức và Long Nam, Long Nữ có mặt, ai ai cũng vui và cảm ơn Thái tử Tất Đạt Đa và đứng lên tiễn Thái tử Tất Đạt Đa về nước. Thái tử Tất Đạt Đa rất vui vì đã làm xong công việc thứ nhất của mình. Còn nhiệm vụ thứ hai là năm sau Thái tử xuất gia tu hành và lập ra Giáo đoàn Đạo Giác ngộ và Giải thoát.

(Xin cám ơn fb “Phạm Linh”- Pleiku, Gia Lai, đã kỳ công chép lại và chúng tôi xin phép sưu tầm chia sẻ với những ai đang muốn giác ngộ và giải thoát)


Xem thêm các bài viết khác:

– Top 11 quyển sách Thiền tông cho người muốn Giác ngộ và Giải thoát.

– Bài thuyết pháp đầu tiên của Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA cho VUA LƯƠNG VŨ ĐẾ

– SÁU PHÁP MÔN TU CÓ THỦ ẤN CỦA ĐẠO PHẬT

– TẠI SAO TẬP HUYỀN KÝ CỦA ĐỨC PHẬT LẠI GIAO CHO 1 VỊ CƯ SĨ MÀ KHÔNG GIAO CHO 1 VỊ TU SĨ Ạ?

hỗ trợ sách: điện thoại, 0988.595.159 (zalo, viber, sms, gọi) (Thưa Quý vị, trang daophatthientong.net mục đích là sưu tầm và chia sẻ các bài viết, giải đáp về Đạo Phật Thiền Tông. Đặc biệt, xin chia sẻ cùng những ai muốn Giác ngộ và Giải thoát, hoặc muốn tìm hiểu những điều cốt tủy Đức Phật dạy. Quý vị xem trang mà mà muốn hỏi sách có thể liên hệ mình hỗ trợ - điện thoại, 0988.595.159 (zalo, viber, sms, gọi)

17 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây