Sưu tầm bài viết hay, sách hay về Giác ngộ và Giải thoát

5
7212
GIỚI THIỆU BỘ SÁCH VIẾT CHO NGƯỜI ĐỌC MUỐN GIÁC NGỘ VÀ GIẢI THOÁT:
1- Muốn Giác Ngộ, xin mời đọc quyển:
– Tu theo pháp môn nào của đạo Phật dễ giác ngộ.
2- Muốn Giải Thoát, xin mời đọc quyển:
– Hành đúng lời dạy của Đức Phật chắc chắn được giải thoát.
– Khai thị Thiền tông.
– Đức Phật dạy tu Thiền tông.
3- Muốn biết dòng chảy của Mạch nguồn Thiền tông, xin mời đọc quyển:
– Huyền ký của Đức Phật và những vị ngộ thiền.
4- Muốn biết các vị Tổ sư Thiền tông tu và ngộ đạo như thế nào, xin mời đọc quyển:
– Cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư Thiền tông: Ấn Độ – Trung Hoa – Việt Nam.
5- Muốn rõ thông tất cả những lời dạy của Đức Phật, xin mời đọc 2 quyển:
A- Những câu hỏi Thiền tông quyển một.
B- Những câu hỏi Thiền tông quyển hai.
6- Muốn biết cấu trúc Càn khôn vũ trụ, Tam giới, qui luật luân hồi nơi trất đất cũng như những lời dạy sau cùng của Đức Phật truyền riêng theo dòng Thanh Tịnh thiền thì mời đọc quyển:
– Huyền ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông.
7- Muốn xem những đoạn Video về Thiền tông, giải đáp thiền tông:
* Vào trang mạng http://youtube.com, sau đó gõ: “Giải đáp thiền tông”  

* Nghe sách tại: http://thientong.com/thientong/toan-bo-dia-thien-tong-giong-doc-mien-bac/


Quyển 1: Tu theo Pháp môn nào của Đạo Phật dễ Giác Ngộ

… Xin trích một phần nội dung quyển 1 dưới đây…

01. Giới thiệu

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:

– Biết Phật, hiểu Tánh, là đã giác ngộ rồi. Còn biết cách “Dừng, Dứt” vật lý, thì mới giải thoát được!

Đức Tổ Bồ Đề Đạt Ma dạy:

– Biết không lập văn tự, rõ giáo ngoại biệt truyền, mới tu theo giáo pháp Thiền tông của Đức Phật dạy được!

Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy:

– Tu hành không biết Phật Tánh, tu hành vô ích!

Đức Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam dạy:

– Trong nhà có báu không xài

– Dụng công tìm kiếm, tìm hoài uổng công

– Tu thiền mà cố dụng công

– Dụng công mà được, bỏ sông cho rồi!

Tổ Pháp Loa dạy:

-Vị nào biết pháp Thanh tịnh thiền, thì mới tu giải thoát được, còn không biết mà dạy người khác là lừa người!

Tổ Huyền Quang dạy:

– Vị nào không biết Phật tánh của mình, thì vĩnh viễn phải đi trong 6 nẻo luân hồi! Đồng nghĩa, làm theo sự xúi bảo của Ma Vương!

Thiền gia Chánh Huệ Phong nói:

– Không biết Phật, không hiểu Tánh, tu 1.000 năm cũng vẫn đứng ngoài hàng rào của sân thiền, chứ nói chi vào được cửa “Bí mật Thiền tông”.

02. Lời nói đầu

Theo các kinh điển Phật giáo, cách đây hơn 2.550 năm, thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn, trị vì đất nước Ca Tỳ La Vệ, (thành cũ hiện nay thuộc miền Nam nước Népal, cách biên giới nước Ấn Độ và nước Népal 30 km. Thành mới và 10 di tích đặc biệt hiện nay thuộc miền Bắc nước Ấn Độ, trải dài gần 300 km.

Gồm: 1- Phật Đản sanh. 2- Xuất gia 3- Tu khổ hạnh. 4- Tu trung đạo. 5- Thành đạo. 6- Thuyết pháp đầu tiên để độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu. 6- Vườn Lộc Uyển. 7- Thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn, là bộ kinh đầy đủ nhất, từ sơ cơ đến quả Phật và truyền Thiền Thanh tịnh lại cho Ngài Ma Ha Ca Diếp để làm Tổ sư Thiền Thanh tịnh đời thứ nhất. 8- Đức Phật nhập Niết bàn. 9- Trà tỳ để lưu Xá Lợi của Đức Phật. 10- Bảo tháp lưu Xá Lợi của Đức Phật, và còn rất nhiều di tích khác nữa.

Còn nhỏ, Ngài hết sức thông minh, khi lớn lên, Ngài thích tìm hiểu về nhân sinh, vũ trụ và thích tìm hiểu tất cả vạn vật chung quanh. Đặc biệt, Ngài có bốn cái thắc mắc tuyệt vời như sau:

Thứ nhất: Con người từ đâu đến với thế giới này?

Thứ hai: Đến với thế giới này rồi để bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết?!

Thứ ba: Khi còn sống ở nơi thế giới này, tranh giành, hơn thua, chém giết với nhau, sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả!

Thứ tư: Chết rồi sẽ đi về đâu?

Ngài thấy làm lạ về bốn cái thắc mắc nêu trên, nên tâm Ngài luôn bị giày vò. Ngài tự nhủ:

– Chẳng lẽ, con người sống nơi thế giới này, cứ bị bốn thứ nói trên chi phối mà không thoát ra được sao? Vì muốn tìm ra cho được bốn nguyên nhân trên, nên Ngài đi hỏi tất cả những người có học vấn cao, kể cả những vị tu sĩ có danh tiếng nhất thời bấy giờ để được rõ thông, nhưng không ai giải đáp cho Ngài thỏa mãn được, nên Ngài quyết định đi tu để tìm cho ra bốn cái thắc mắc nói trên.

Ban đầu, Ngài tìm đến các vị tu Tiên để học đạo. Ngài tu các pháp môn thiền quán, đạt được các thiền như: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, thiền Phi Phi tưởng, sau cùng Ngài đạt được thiền Diệt tận định. Tuy đạt được các thiền trên và thấy được rất nhiều cõi, nhưng thẩm xa, vẫn còn thấy màn đen u tối bao quanh ở nơi phương trời xa thẳm, tức không giải thích được bốn vấn đề mà Ngài thắc mắc, nên quyết định tu thêm 1 pháp nữa là Thanh tịnh thiền. Không ngờ, tâm của Ngài bừng sáng, thấy rất rõ ràng, trùm khắp cả vũ trụ mênh mông bao la này, Ngài thấy không thiếu sót chỗ nào và không thấy chỗ nào tối cả, dù là nhỏ nhất. Ngài diễn tả vũ trụ này rộng lớn không dùng ngôn từ gì của thế giới này mà nói lên hết được, nên Ngài có cái ví dụ như sau:

– Như đem một triệu trái đất này mà nghiền nát ra thành bụi, bay về phương Đông, hoặc phương Tây, hay phương Nam, phương Bắc, phương Trên, phương Dưới; cứ gặp một hành tinh, bỏ xuống hành tinh đó một hạt bụi, bỏ hết hạt bụi của một triệu hành tinh, nhưng cũng chưa đụng biên giới của vũ trụ này!

Các người thời đó hỏi Ngài:

– Vậy, Ngài tu thành tựu được những gì, mà Ngài thấy và biết sâu xa như vậy?

Thái tử Tất Đạt Đa trả lời:

– Vì ta thấy và biết được ba cái minh:

1- Thiên nhãn minh.

2- Túc mạng minh.

3- Lậu tận minh.

Và sáu cái thông suốt.

Nên Ngài hiểu rõ và giảng trạch được bốn cái thắc mắc trên. Vì vậy, Ngài đặt “công thức” trên là “Như Lai Thanh Tịnh thiền”. Các môn đồ theo học, gọi Ngài là Bụt Đa (tức bậc giác ngộ); vì Ngài hiểu thật rõ ràng và tường tận, từ con người đến vạn vật khắp trong vũ trụ này, biết tất cả nguyên do sanh ra và bị diệt đi. Ngài thấy vũ trụ này thật là vô biên, nhưng lại tuyệt đối vô trụ, và vận hành hết sức trật tự… Ngài thấy tường tận từ nhân duyên sanh, dù là nhỏ nhất hay lớn nhất, cũng như nhân quả từ nhỏ đến lớn không sai sót một chút nào.

Có môn đồ hỏi về cái thấy và cái biết của Ngài, Ngài trả lời: “Ta thấy và biết rất rõ ràng từng hành tinh trong vũ trụ bao la mênh mông này, rất nhiều, rất nhiều không thể đếm hết được, như cát của 1 tỷ sông Hằng này gọp lại vậy; còn những lời của Ngài nói cho các người thời ấy nghe, như mấy hạt cát trong đầu ngón tay của Ngài thôi.

Vì vậy:

– Đối với Hoàng tộc, xem Ngài là một thành viên kiệt xuất.

– Đối với thần dân trong nước, xem Ngài là một vị Thánh nhân.

– Đối với nhân loại, xem Ngài là một Vĩ nhân.

– Đối với các môn đồ, xem Ngài là một vị Bụt Đa (là vị giác ngộ, tức hiểu biết, người Trung Hoa gọi là Phật Đà, còn người Việt Nam chúng ta gọi Ngài là Đức Phật).

Có thể nói, Ngài là một con người có một không hai ở thế giới này. Với uy danh lớn lao như vậy, nhưng đồ dùng hằng ngày của Ngài chỉ có ba bộ y để mặc, để ngủ, để sinh hoạt, đi ra ngoài thất. Cái bát để ăn cơm và uống nước của Ngài, tự Ngài làm lấy. Còn chỗ ở của Ngài là cái thất ở dưới gốc cây, bằng lá đơn sơ. Khi ông Cấp Cô Độc nghe lời dạy của Ngài, ông nhận ra được cái Phật tánh chân thật ở nơi ông; ông trình thưa với Đức Phật:

– Con thấy trên đời này, không gì qúi bằng Phật tánh chân thật của chính con. Vậy, con kính trình xin Đức Thế Tôn cho phép con bỏ ra một số vàng lớn mua khu vườn của thái tử Kỳ Đà để cất Tinh Xá cho Đức Thế Tôn và các môn đồ của Đức Thế Tôn ở, kính xin Đức Thế Tôn chấp nhận lời con. Đức Phật đồng ý và nhờ ông Xá Lợi Phất lo việc này.

Thái tử Kỳ Đà, thấy tấm lòng của ông Cấp Cô Độc kính trọng Đức Phật quá lớn, nên Thái tử Kỳ Đà tặng ông Cấp Cô Độc tất cả những cây kiểng trong vườn, làm cảnh trí nơi Đức Phật ở, để tăng thêm phần cảnh đẹp.

Khi Đức Phật thấy và hiểu được bốn cái thắc mắc trên. Trong 49 năm, Đức Phật đi nói cái chân thật mà Ngài đã tìm ra cho những ai muốn tìm hiểu. Vì vậy, khi lìa bỏ thế giới này, Ngài để lại “công thức” qúi nhất là “Như Lai Thanh Tịnh thiền” cho đệ tử ưu tú nhất của Đức Phật là ông Ma Ha Ca Diếp, vì vị này đã nhận ra Phật Tánh thanh tịnh của chính ông và sống được với Phật tánh ấy.

Pháp môn Thanh tịnh thiền này, ông nhận ra bằng tánh Thấy của ông qua cành hoa sen mà Đức Phật đưa lên tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn. Tại buổi “kiểm thiền” này, duy nhất chỉ có ông Ma Ha Ca Diếp, lanh lợi nhận ra đầu tiên; còn những vị có mặt cũng có nhiều vị cũng nhận ra, nhưng vì chậm hơn, nên Đức Phật có dạy như sau, ta có:

– Chánh pháp, nhãn tạng

– Niết bàn diệu tâm

– Pháp môn mầu nhiệm

– Không lập văn tự

– Truyền ngoài giáo lý

– Ai biết Phật mình

– Nhận được Tánh mình

– Mới tu đúng chánh pháp Thanh tịnh thiền được.

Cũng nhờ pháp môn Thanh tịnh thiền này, mà Ngài Ma Ha Ca Diếp nhận ra Phật tánh chân thật của chính mình nên được làm Tổ thứ nhất, còn Ngài Xá Lợi Phất mới được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh của chính mình” nên Ngài mới trình thưa với Đức Phật những gì mà Ngài thấy và biết trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh.

Vì pháp môn quá tuyệt quí này nên Đức Phật dạy thêm:

– Pháp môn tu thiền Thanh tịnh này, là pháp môn rất mầu nhiệm, có ba cấp bậc như sau:

1- Vị nào hiểu biết căn bản của pháp môn tu Thanh tịnh thiền này, là vị đó coi như đã bước vào được “Sân thiền”, cũng gọi là đạt “Yếu chỉ Thiền tông”.

2- Vị nào hiểu biết được tất cả các pháp môn mà Như Lai dạy nơi thế giới này, vị đó xem như đã mở cửa được “Nhà thiền”, cũng gọi là đạt được “Bí mật Thiền tông”.

3- Vị nào vào được”Nhà thiền” rồi, mà “Được rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, vị đó coi như đã về đến “Quê xưa” của mình.

Đức Phật lại dạy:

– Hôm nay, tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn này, Như Lai chánh thức truyền thiền Thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca Diếp, để nối tiếp Như Lai dạy pháp môn Thanh tịnh thiền này, Như Lai nói rõ cho các ông biết: Dòng của mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, nay đã bắt đầu rồi đó, và dòng chảy của nguồn thiền Thanh tịnh ở nước này chỉ có 28 đời Tổ thôi, sau sẽ đến nước lớn ở phương Đông, có thêm 5 đời Tổ nữa, sau đó chảy đến đất Rồng thêm được 3 đời Tổ nữa, rồi Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này sẽ ẩn.

Đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng, có một vị nhận được dòng chảy của Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, và cũng từ đây, Nguồn thiền Thanh tịnh sẽ được người có tâm lớn cho chảy đi khắp Năm châu.

Đức Phật lại dạy tiếp:

– Này ông Ma Ha Ca Diếp, nguồn thiền Thanh tịnh này, ông đừng cho đoạn dứt, khi ông lìa bỏ thế giới này, ông hãy truyền lại cho ông An Nan Đà, nối tiếp ông làm Tổ sư thiền đời thứ 2; cũng từ đời ông A Nan Đà trở đi phải gọi là Thiền tông.

Vì sao phải gọi đổi tên hiệu như vậy?

– Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, nếu gọi như tên cũ thì không đúng lắm.

Vì sao vậy?

– Vì pháp môn tu thiền này, nó không được phép ghi vào trong các kinh của Như Lai dạy; mà nó phải chảy riêng theo dòng thiền của nó, chỉ có những vị có nhiệm vụ dẫn mạch nguồn thiền này mới được phép nắm giữ văn kệ Huyền ký của Như Lai thôi. Như vậy, phải gọi là Thiền tông, tức pháp môn thiền học này có tông và dòng riêng của nó.

Như Lai có Huyền ký cho vị Tổ thứ 33 biết: Đến đời vị Tổ này, pháp môn Thiền tông, chỉ dạy một phần nhỏ thôi, khi vị đó gần diệt độ, vị đó phải cho phép vị đệ tử nào ưu tú nhất, công bố pháp môn Thiền tông học này ra, để những người có mặt vào đời Mạt Thượng pháp họ nhận được và công bố đi khắp Năm châu…

(Người sưu tầm và biên soạn, kiêm tác giả Nguyễn Nhân)

Quyển 2: Những câu hỏi về Thiền tông 1
Nội dung Quyển 2 là những câu hỏi cao tột của những vị Phật tử, quý Thầy cũng như những vị Tiến sĩ Phật học dành tặng cho vị Trưởng Ban quản trị Chùa Thiền Tông Tân Diệu. Các câu hỏi về Kinh A Di Đà; cách an trú Tâm; Bố thí Ba-La-Mật; Thọ và Tưởng; Trung Ấm Thân; nhà ngoại cảm; Nhĩ Căn Viên Thông; cách tu dụng công; cách định Tâm; cách dẹp Vọng Tưởng; cách cầu xin; ngồi thiền “Thấy” Phật Thích Ca; Mười Mục Chăn Trâu; Kiến Tánh; Bát Nhã Tâm Kinh; ý nghĩa Hương Linh, Giác Linh; Bản Lai Diện Mục, Pháp Thân Thanh Tịnh; ý nghĩa Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Đặc biệt hơn là cách tiến vào cảnh giới Thanh Tịnh hay làm thế nào để nhận ra Phật Tánh của mình …

… Xin trích một phần nội dung sách dưới đây:

01. LỜI NÓI ĐẦU 

Kính thưa độc giả:

Chúng tôi biên soạn và viết ra quyển sách này, vì trước đây, chúng tôi có viết ra quyển sách “Tu theo pháp môn nào của đạo Phật, dễ giác ngộ” do Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu giảng giải. Nhiều người đọc được quyển sách nói trên. Họ nghe lời giảng giải của vị Trưởng ban quản trị chùa, khác hẳn với sự hiểu biết thông thường của họ. Tuy họ hiểu khá nhiều, nhưng vì đạo Phật quá ư là cao siêu, có những ẩn ý họ không thể hiểu hết nổi, hoặc có hiểu, nhưng mỗi người hiểu một cách. Nên họ nhờ chúng tôi dẫn đến chùa, để hỏi những thắc mắc, được thật rõ thông thêm. Các câu hỏi được vị Trưởng ban quản trị chùa giải đáp rất tận tình và rành mạch, nếu ai quan tâm đến đạo Phật, nhất là các lối tu của đạo này, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu.

Sau đây là các lời giải đáp mà chúng tôi ghi lại được. Cá nhân chúng tôi nhận thấy rất hay, có thể nói, những lối tu theo đạo Phật được phơi bày, như theo lời giải của Trưởng ban, dù người học cao hay học thấp gì, thích tìm hiểu và tu theo đạo Phật, hạng người nào cũng thành công cả.

Vì chỗ quá hay này, chúng tôi không nở biết một mình, nên viết ra tất cả các câu hỏi mà những người thắc mắc đã hỏi, được vị Trưởng ban quản trị chùa trả lời rất tường tận, mạch lạc và dễ hiểu.

Chúng tôi thay mặt những người hỏi, xin chân thành cám ơn Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu đã tận tình giải nghĩa, từng chữ, từng lời, mà chúng tôi đã thắc mắc.

Người sưu tầm thiền học Phật giáo kiêm tác giả NGUYỄN NHÂN (Tức NGUYỄN CÔNG NHÂN)

Sau đây là những câu hỏi của chúng tôi ghi lại được, do vị Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu trả lời:

Mở đầu các câu hỏi là của bác sỹ nhãn khoa Trần Thị Yến Thanh, sanh năm 1958 (58 tuổi), tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Cư ngụ tại đường Quang Trung, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, hỏi:

– Kính thưa Trưởng ban, chúng tôi có duyên lành đọc được quyển sách “Tu theo pháp môn nào của đạo Phật, dễ giác ngộ” của người sưu tầm thiền học Phật giáo kiêm tác giả Nguyễn Nhân viết. Thú thật, chúng tôi rất mừng là hiểu đạo Phật khá nhiều. Vì đạo Phật quá ư là cao siêu, nên chúng tôi không hiểu nỗi những lời ẩn ý trong kinh. Vì vậy, hôm nay chúng tôi trước đến viếng chùa, sau xin Trưởng ban vui lòng giải đáp vài thắc mắc mà chúng tôi không hiểu được không ạ?

Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu trả lời:

– Nếu quí vị có thắc mắc điều chi xin hỏi, chúng tôi hiểu đến đâu, xin giải đáp đến đó.

Bác sỹ Trần Thị Yến Thanh là người đi trong đoàn đứng lên nói:

– Chúng tôi đến viếng chùa có tất cả là 40 người. Đoàn chúng tôi có rất nhiều người muốn hỏi, xin Trưởng ban nhín ít thời giờ giải đáp, chúng tôi xin thành thật cám ơn.

1- Tôi tên Trần Kiến An, sanh năm 1945 (65 tuổi), tại Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Cư ngụ tại đường Hoàng Hoa Thám, quận Tân Bình, xin hỏi trước:

– Tôi có đọc cuốn kinh Kim Cang giảng lục của dịch giả Huệ Hưng, Ngài Tu Bồ Đề có hỏi Đức Phật như sau:

– Kính bạch Đức Thế Tôn: Con và chúng sanh hiện tại và các đời sau, muốn tu được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao con an trụ tâm và hàng phục tâm của chúng con?

Đức Phật dạy:

– Này ông Tu Bồ Đề, ông và chúng sanh hiện tại cũng như các đời sau, muốn tu để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, phải an trụ tâm và hàng phục tâm, bằng cách là độ tất cả chín loài chúng sanh như dưới đây vào Vô Dư y Niết bàn, nhưng không thấy có chúng sanh nào được diệt độ:

1- Thai sanh. 2- Trứng sanh. 3- Ẩm ướt sanh. 4- Hóa sanh. 5- Có sắc. 6- Không sắc. 7- Có tưởng. 8- Không tưởng. 9- Chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, là ông và chúng sanh hiện tại cũng như các đời sau đã an trụ tâm và hàng phục tâm rồi đó.

Dịch giả Huệ Hưng giải thích về chín loài chúng sanh ấy như sau:

1- Thai sanh: Loài người, trâu, bò, heo, dê, v.v…

2- Trứng sanh: Loài chim, gà, vịt, v.v…

3- Ẩm ướt sanh: Loài côn trùng, v.v…

4- Hóa sanh: Loài muỗi, đom đóm, v.v…

5- Có sắc: Chúng sanh ở cõi Dục giới, Sắc giới (có hình tướng).

6- Không sắc: Chúng sanh ở cõi trời Vô sắc (không hình tướng).

7- Có tưởng: Tất cả chúng sanh ở trong ba cõi (trừ cõi trời Vô Tưởng).

8- Không tưởng: Chúng sanh ở cõi trời Vô Tưởng.

9- Chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng: Chúng sanh ở cõi trời Phi Phi Tưởng.

Dịch giả Huệ Hưng giải thích: “Người nào tu muốn được an trụ tâm và hàng phục tâm, phải độ hết chín loài chúng sanh nói trên vào Vô Dư y Niết bàn, thì người đó mới được gọi là thành công trong an trụ tâm và hàng phục tâm.

Chúng tôi cũng có đi hỏi nhiều vị, có vị giảng, cũng các loài chúng sanh như trên, nhưng các loài đó là do tâm mình nghĩ tưởng ra, khi nghĩ ra loài nào dẹp loài đó, khi tâm người tu không còn một loài nào là người đó đã an trụ tâm và hàng phục được tâm rồi. Có vị giảng đặc biệt hơn, người trước không tham, vì hoàn cảnh nào đó mà khởi lòng tham gọi là hóa sanh, hoặc suy nghĩ những việc chưa xảy ra, v.v…

Các vị trên, mỗi người nói một cách, chúng tôi không biết tin vào ai. Ở đây, Trưởng ban giải thích có trùng với các ý một trong những vị nĩi trên không?

Vị Trưởng ban quản trị chùa giải thích:

– Đây là hai câu hỏi then chốt trong kinh Kim Cang, cũng là hai câu hỏi để người tu nhận ra Phật tánh của chính mình, chứ không phải bình thường, vị nào muốn giảng kinh Kim Cang này, vị đó phải hiểu hai ý căn bản như sau:

Thứ nhất: Người giảng phải hiểu ông Tu Bồ Đề ở quả vị nào mà hỏi như trên.

Thứ hai: Đức Phật dạy kinh theo hình thức nào.

Theo chúng tôi biết, hiện nay giảng kinh Kim Cang này có bốn hạng người tham gia; còn Đức Phật dạy kinh Kim Cang này có ba phương pháp:

Bốn hạng người tham gia gồm:

Hạng người thứ nhất: Dùng trí học hỏi chút ít và suy nghĩ ra để giảng.

Hạng người thứ hai: Dùng trí học hỏi cao, trình độ kiến thức hơn người để giảng.

Hạng người thứ ba: Dùng trí hiểu biết dụng công tu tập thiền định thành công trong vật lý, nhận ra ẩn ý kinh để giảng.

Hạng người thứ tư: Tìm hiểu và thực hành đúng như trong kinh đã dạy, nhận ra Phật tánh của chính mình và từ trong Phật tánh của chính mình để giảng.

Còn Đức Phật dạy tu trong các kinh Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, niệm Phật hay niệm Chú, tùy mỗi pháp môn mà Đức Phật dạy. Như ở nơi kinh Kim Cang này, Đức Phật dạy có ba phương pháp như dưới đây:

Một: Đức Phật dạy hai câu này là để chỉ cho ông Tu Bồ Đề nhận ra tâm vật lý thanh tịnh của chính ông ấy.

Hai: Ở đây, Đức Phật dạy tu bằng ẩn ý.

Ba: Đức Phật dùng lời nói bình thường, không sử dụng thần thông.

Vị nào hiểu được cội nguồn như trên thì giảng kinh Kim Cang này mới không sai.

Chúng tôi xin phân tích hai câu hỏi trên của ông Tu Bồ Đề và lời dạy của Đức Phật như sau:

* Hiểu được bốn hạng người giảng nói trên.

* Hiểu được ba phương pháp của Đức Phật dạy, thì người nghe mới biết rõ lời Đức Phật dạy và chúng ta mới biết ai giảng ở trình độ nào. Chúng tôi xin nói rõ từng hạng người một như sau:

Một: Vị nào giảng bảo là độ tất cả chúng sanh có hình tướng ở bên ngoài tâm mình, vào Vô Dư y Niết bàn, vị đó dùng trí của hạng người thứ nhất.

Chúng tôi xin dẫn thực tế như sau: Đức Phật có độ hết các loài chúng sanh đâu mà Đức Phật đã thành Phật cách đây hơn 2.550 năm rồi.

Hai: Vị nào giảng bảo là độ tất cả chúng sanh do tâm mình nghĩ tưởng và những cảnh giới trong kinh, vị đó dùng trí của hạng người thứ hai. Các cõi trời như trong kinh nói, mình đâu có biết ở phương nào mà “độ” mà dẹp!

Ba: Vị nào giảng bảo là độ tất cả chúng sanh vô cớ sanh ra trong tâm mình, vị đó dùng trí tuệ của hạng người thứ ba.

Bốn: Vị nào giảng thực tế: Do tâm ông Tu Bồ Đề khởi nghĩ ra, là đúng với lời Đức Phật dạy; như chúng tôi đã nói ở trên, kinh này Đức Phật dạy ẩn ý và dùng lời nói bình thường của Ngài.

Bởi vậy, tam Tổ Tăng Xán ở Trung Hoa có nói một câu:

– Chí đạo vô nan duy hiềm giảng trạch!

Cái tuyệt đỉnh của đạo không khó, chỉ vì người giảng tưởng tượng ra quá nhiều, làm cho người nghe rối rắm không biết đâu mà hiểu. Đã vậy, còn bày biện ra đủ chuyện trên đời, làm cho người học hỏi càng vào chỗ tối tăm.

Chúng tôi xin nói rõ thêm, chúng ta hiểu hai câu này là Đức Phật dạy đối tượng được dạy là ông Tu Bồ Đề và đại chúng thời đó, là những vị đã chứng được những quả vị cao. Ông Tu Bồ Đề muốn ghép chúng sanh hậu thế là chúng ta, để chúng ta yên lòng như có phần, nếu ai có duyên học được kinh Kim Cang, coi như có đại duyên, mà muốn tìm hiểu ý nghĩa sâu mầu của kinh nữa, là người đó đã có duyên lành tu theo đạo Phật ít nhất cũng được vài trăm đời, chứ không phải mới tu theo đạo Phật một đời này đâu. Còn người nào hiểu, nhận được yếu chỉ Phật dạy, mà hằng sống với tâm thanh tịnh của chính mình, người đó chắc chắn không còn luân hồi sinh tử nữa.

Xin nói thêm chỗ này, ông Tu Bồ Đề xin Đức Phật dạy cách an trụ tâm và hàng phục tâm để được thành Phật, chứ Đức Phật không dạy những người đi tìm cái phàm tình. Trong kinh này Đức Phật bảo là mẹ sanh ra Chư Phật, chứ không phải tầm thường. Chúng ta nghĩ xem, kinh này Đức Phật dạy là tu để thành Phật; nếu chúng ta không hiểu ý chánh của hai câu hỏi này mà giảng, làm sao giảng đúng ý Đức Phật được? Vô tình, dẫn người nghe đi lạc đường, tội nghiệp cho người nghe và hành theo!

Bởi vậy Đức Phật bảo:

– Các ông hãy suy xét cho kỹ lời ta dạy, cái gì đúng hãy tin, nếu tin mà không hiểu lời ta dạy là phỉ báng ta vậy!

Bởi vậy, các vị Tổ sư Thiền tông có dạy:

Đạo Phật lẽ thật ở ta

Ngoài ta tìm lẽ thật ắt theo tà!

Theo tà đi trong lục đạo

Đi trong lục đạo biết kiếp nào ra?

Vì vậy, vị nào muốn giảng kinh Đại thừa Phật giáo, người đó ít ra cũng ở hạng người thứ ba, nếu không được vậy, vì ham danh, ham lợi mà “đăng đàng” dạy người khác, mình không có công đức gì, mà trái lại, bị quả báo không thể lường trước hết được!

Còn Đức Phật, Ngài dạy kinh Kim Cang này:

Thứ nhất: Chỉ cho ông Tu Bồ Đề cùng đại chúng thời đó, cũng như chúng sanh hậu thế biết cách tu để an trụ tâm và hàng phục tâm vật lý. Ngài dạy những gì mà chúng ta nghe, thấy, hiểu và biết được, chứ Đức Phật không dạy những gì mà ngoài mắt thấy, tai nghe và sự hiểu biết của con người.

Thứ hai: Đức Phật dùng ẩn ý để dạy, vì chỗ ẩn ý này mà mỗi người suy lý và giảng một cách.

Thứ ba: Kinh Kim Cang Đức Phật không dùng thần thông, mà Ngài chỉ dùng ngôn từ bình thường để dạy, nếu vị nào dùng trí óc, tưởng tượng, suy nghĩ nhiều, chắc chắn phải sai.

Hai câu trên, nếu dùng một chút trí tuệ Bát Nhã của hạng người thứ tư thì có ý nghĩa như sau:

Đức Phật dạy ông Tu Bồ Đề:

– Hiện ông tu đã đạt được quả vị A La Hán, tức ở trong Niết bàn Tỉnh lặng là Niết bàn Hữu Dư y, cũng gọi là Niết bàn Hóa thành.

Ông đừng:

Thứ 1: Ông đừng tưởng nhớ thân bằng quyến thuộc của ông như: Ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, … của gia đình ông, tức chúng sanh thai sanh.

Thứ 2: Ông đừng tưởng nhớ cảnh vật như: Chim, cá, cảnh, hay gia súc của gia đình, tức chúng sanh trứng sanh.

Thứ 3: Ông đừng ham muốn hay buồn thương giận ghét. Ham mà không được thì lệ rơi, thương mà phải xa lìa cũng rơi lệ. Ham ăn thì nước miếng chảy ra, ham sắc thì nước ái cũng chảy ra, tức chúng sanh ẩm ướt sanh.

Thứ 4: Ông đừng nghĩ phải dùng thần thông biến hóa cho mọi người chung quanh thấy ông có thần thông, họ đến với ông để ông độ họ, tức chúng sanh hóa sanh.

Thứ 5: Ông đừng nghĩ phải dùng hình sắc gì kỳ đặc mà độ chúng sanh, tức chúng sanh có sắc.

Thứ 6: Ông đừng nghĩ phải dùng phép mầu gì linh nghiệm mà không hình sắc độ chúng sanh, tức chúng sanh không sắc.

Thứ 7: Ông đừng nghĩ phải làm sao có đệ tử hoặc phật tử nhiều, hay nuôi đệ tử nào đặc biệt, để phục vụ mình, nhất là trong lúc tuổi già, tức chúng sanh có tưởng.

Thứ 8: Ông đừng nghĩ phải cất chùa to, cảnh chùa cho đẹp để thu hút mọi người đến với ông, tức chúng sanh không tưởng.

Thứ 9: Ông đừng tìm hiểu Niết bàn Thanh tịnh của Như Lai, không biết ra làm sao? Ông dừng nghĩ tưởng như vậy. Vì Niết bàn Thanh tịnh của Như Lai chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng mà hiểu được, tức chúng sanh chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng.

– Xin nói thêm, vị nào hiểu thật sâu câu “Ly tứ cú, tuyệt bách phi” của Đức Phật dạy thì vị đó mới hiểu nổi câu số 9 này.

Chỗ này Đức Phật dùng tâm vật lý bình thường của Ngài để dạy. Vì vậy, ai dùng trí suy luận, hay tưởng tượng để giảng thì sai, càng suy luận, càng tưởng tượng, thì càng sai nhiều.

Nếu nói gọn như các vị thiền sư, không phải độ hết chín loài chúng sanh như nói trên, mà các Ngài chỉ nói có một câu là “chớ vọng tưởng” không khi nào có chúng sanh nào “lú đầu” ra được, là đã an trụ tâm và hàng phục tâm rồi đó.

Quyển 3: Hành đúng lời Phật dạy chắc chắn Giải thoát
Nội dung Quyển 3 nói về tại sao hiện nay người Tu cũng như không Tu bị bệnh nhiều? Lý giải về cách ăn uống theo Thiền Tông để cân bằng Âm-Dương trong cơ thể; cũng như một số câu hỏi về Đức Lão Tử, Khổng Tử; chữ Vạn trong nhà Phật; hỏi về An táng; hỏi về Cúng Dường; ý nghĩa truyện Tây Du Ký; những câu hỏi gay gắt và hóc búa quyết chí đốn ngã vị Trưởng Ban; hỏi về cách hành thiền; đốn ngộ tiệm tu; lời nguyền của Ma Vương; điều kiện “tu” theo Thiền Tông. Trong đĩa cũng chỉ rõ Lộ trình vào Bể Tánh Thanh Tịnh Phật Tánh Không dụng công và Có dụng công trong Kinh Kim Cang. Đặc biệt hơn là sự chỉ dẫn “Hành đúng lời Phật dạy chắc chắn được Giải thoát”.

… Xin trích một phần của sách dưới đây:

LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa độc giả:

Chúng tôi viết ra quyển sách này là vì trước đây chúng tôi đã xuất bản 2 quyển sách “Tu theo pháp môn nào của đạo Phật dễ giác ngộ” và “Những câu hỏi về Thiền tông”. Sách được rất nhiều người đọc, họ thấy lối tu Thiền tông được Đức Phật và các vị Tổ Sư thiền dạy, ai chú tâm cố gắng nghiền ngẫm sẽ dễ dàng nhận ra Phật tánh của chính mình. Chúng tôi rất mừng, vì nhiều người nhận ra Phật tánh của chính họ, nhưng cũng còn nhiều người chưa nhận ra, nên họ nhờ chúng tôi dẫn đến chùa hỏi hoặc nhờ chúng tôi hỏi vị Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu, xin vị Trưởng ban chỉ một cách cặn kẻ, để họ nhận ra và sống với Phật tánh của chính họ, không còn bị sanh tử luân hồi nữa. Các vị đọc sách bảo, từ trước đến nay chưa hề nghe ai giải thích rõ ràng và mạch lạc như vị Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu này cả.

Vì chỗ quá đặc biệt đó, nên chúng tôi nhận rất nhiều câu hỏi, nhất là của những cụ cao tuổi. Trực tiếp có, thư có, điện thoại có, chúng tôi đã trả lời hết, tất cả những vị hỏi rất mừng, họ bảo, chúng tôi đọc rất nhiều kinh sách nhưng không hiểu lời Đức Phật dạy, nay sách viết về Thiền tông học này chúng tôi đọc rất dễ hiểu, ai tối dạ đọc đi đọc lại vài lần cũng được rõ thông.

Để giúp nhiều người cùng hiểu những câu hỏi cao sâu của Đức Phật dạy, nên chúng tôi viết thêm quyển sách này mang tựa là “Hành đúng lời Đức Phật dạy chắc chắn được giải thoát”.

Quyển sách này, chúng tôi viết ra với hai mục đích chánh như sau:

Mục đích thứ nhất: Để lưu lại tất cả những câu hỏi rất qúi mà từ trước đến nay những vị tu theo đạo Phật chưa biết. Đây là những câu hỏi tuyệt cao của những vị tu theo đạo Phật, hay nói chính xác, những câu hỏi để nhận ra Phật tánh của mỗi người, cũng có thể nói rõ hơn, các vị ấy hỏi những lời cao tột của Đức Phật dạy, mà Ngài dạy vào những năm cuối đời để giúp cho những ai muốn vượt ra ngoài sinh tử. Đây đúng là hoài bảo cứu cánh của Đức Phật trong các kinh điển Đại thừa, rõ ràng nhất là kinh Diệu Pháp Liên Hoa:

* Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên:

Khai – Thị – Chúng sanh – Ngộ – Nhập – Phật – Tri – Kiến của mỗi người. Nói thật rõ hơn, ai muốn nhận ra Phật tánh của chính mình thì hãy thực hiện đúng như lời của Đức Phật dạy; Đức Phật đến với thế giới này chỉ có một điều duy nhất là mở bày, chỉ rõ cho bất cứ ai muốn: Thấy – Nghe – Pháp – Biết bằng cái tri kiến thanh tịnh của chính mình và sống với tri kiến ấy, để không còn bị trôi lăn trong tam giới nữa.

Mục đích thứ hai: Những ai may mắn đọc được sách viết về Thiền tông học của Đức Phật dạy, mà chưa rõ thông, muốn hỏi, nếu có trùng ý hỏi đở phải mất công.

Vì lẽ đó, chúng tôi gom tất cả các câu hỏi lại, viết ra và in thành sách. Ngoài những câu hỏi nêu trong hệ thống sách về Thiền tông học của chúng tôi xuất bản, nếu có ai thắc mắc không trùng ý hỏi, cứ viết thơ hoặc điện thoại đến, chúng tôi xin giúp qúi vị. Phần nhiều, các câu hỏi trong sách này là của những cụ ông, cụ bà rất cao tuổi, có cụ đến 91 tuổi.

Vì sao các cụ cao tuổi lại quan tâm nhiều đến như vậy?

– Xin thưa, vì các cụ thấm thía câu: “Còn một thời gian ngắn nữa là các cụ từ bỏ tất cả những gì mà các cụ tạo dựng ra, để đi theo các nghiệp lành hoặc dữ mà các cụ đã làm”.

Các cụ thấy sách viết về Thiền tông học này, rất hợp với các cụ, nên các cụ đọc; mà đọc rất chăm chỉ và mách nhiều người cùng đọc, cũng có thể nói, sách viết về Thiền tông học này rất thích hợp với người cao tuổi mà muốn tìm hiểu “tương lai” đời mình…

Quyển sách nhỏ này, chúng tôi chỉ trích ra những câu hỏi cao nhất, có giá trị nhất, của vị Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu trả lời cho các cụ. Chúng tôi phân ra làm sáu mục chánh như dưới đây:

Mục một: Chỉ cách ăn uống theo phương pháp quân bình âm dương, dành riêng cho người thật sự muốn tu theo pháp môn Thiền tông Nhà Phật đễ được giác ngộ, sau đó mới biết đường giải thoát.

Cảm nhận được sự vận hành của cơ thể. Nhờ vậy, nhận được lời dạy của Đức Phật rất dễ dàng, không bị sai.

Mục hai: Trả lời một số câu hỏi có liên quan đến ăn uống theo phương pháp âm dương và những thắc mắc về Thiền tông học.

Mục ba: Chỉ rõ phương pháp thực hành đúng theo lời ĐứcPhật dạy. nếu ai thực hiện đúng, chắc chắn được giải thoát. Chính mục ba này là tựa của quyển sách.

Mục bốn: Nguời tu theo Thiền tông học Nhà Phật, biết được mười bậc nhận biết từ thấp đến cao tột của những người chung quanh, phân chia theo Thiền tông học.

Mục năm: Giải thích rõ lời nguyền của Ma Vương đối với người tu theo Thiền tông học.

Mục sáu: Người tu theo đạo Phật, phải thông suốt lời Đức Phật dạy thì mới có kết quả tốt được; còn không thông suốt, cứ mãi loay quay đi trong sáu nẻo luân hồi, không khi nào dứt, uổng cho một đời tu!

Cũng có thể nói, chúng ta đem đạo giác ngộ và giải thoát của Đức Phật dạy thành đạo mê tín dị đoan. Ai làm như vậy, Đức Phật không chấp nhận, các vị Tổ sư Thiền tông và những vị Thiền sư không đồng ý!

Do đó, việc trả quả của những người làm sai vô cùng nặng nề không thể nói hết được!

(Nhà sưu tầm Thiền học Phật giáo – kiêm tác giả NGUYỄN NHÂN, tức NGUYỄN CÔNG NHÂN.)

Quyển 4: Những câu hỏi về Thiền tông 2
Nội dung Quyển 4 là những câu hỏi rất hay được đặt cho vị Trưởng Ban như: Trí tuệ Bát Nhã Ba-La-Mật là gì? Tu Tứ Niệm Xứ là sao? Người chân tu phải là người như thế nào? “Lục Diệu Pháp môn” của Trí Khải Đại sư? Tu Tứ Thiền Bát Định? Bốn câu trong Kinh Kim Cang là gì? “Tu” theo Thiền tông tại sao không được dụng công? Ngày nay, có rất nhiều người tu nhưng sao thấy ít ai ngộ đạo? Tám cách Niệm Phật A-Di-Đà? Ngồi thiền dụng công 5 đến 7 giờ liên tục, liệu tôi có giải thoát được không? Ý nghĩa thật sự của việc Thọ Bát Quan Trai? Sao Thiền tông lại Bất lập văn tự và truyền ngoài kinh điển? Pháp môn Thiền tông ngày nay sao không ai giảng và chịu tu? …

—> Xin trích một phần nội dung sách dưới đây:

NGƯỜI TU THEO ĐẠO PHẬT PHẢI RÕ THÔNG 1 CÂU HỎI VÀ 16 CÂU KỆ DƯỚI ĐÂY THÌ MỚI GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT ĐƯỢC. KHÔNG BIẾT, NGỒI TU 1.000 NĂM CŨNG KHÔNG ĂN THUA GÌ. CÒN KHÔNG BIẾT MÀ ĐỨNG RA DẠY NGƯỜI KHÁC THÌ BỊ QUẢ BÁO RẤT NẶNG NỀ!

Phật, phải hiểu rõ là gì?

Tánh Phật gồm có những chi?
Tánh Người gồm có những chi phải tường?
Giác ngộ là rõ hết đường
Giải thoát, là phải biết đường thoát thân.

Tạo ra phước đức vào trần
Công đức mình tạo, đưa lần về quê
Tu dùng vật lý là mê
Không dùng vật lý một bề thảnh thơi.

Pháp Phật đang dạy khắp nơi
Tổ chức kiếm bạc để đời ung dung
Thiền tông Phật dạy chỉ dùng
Là dùng một chữ, ung dung trọn đời.

Thiền tông Phật bảo mình “Thôi”
Thôi tìm thôi kiếm trọn đời an vui
Vào thiền phải bỏ cái “Tôi”
Tự nhiên Phật tánh hiện rồi với ta.

Trên đây là 1 câu hỏi và 16 câu kệ của thiền sư Thường Chiếu dạy. Ai hiểu rõ và thực hiện đúng, thì mới giác ngộ và giải thoát được. Còn không biết, tưởng tượng ra, tập trung nhiều người đến nghe, mục đích vì tiền, thì bị quả báo bị rất nặng nề đó!

(Lời dạy của thiền sư Thường Chiếu trong Ngữ Lục của Ngài).

Lời nói đầu

Kính thưa độc giả:

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lập ra đạo có 2 mục đích chánh như sau:

Một: Giúp cho những ai muốn hiểu rõ về nhân sinh và vũ trụ.

Hai: Giúp cho những ai muốn giải thoát ra ngoài sự cuốn hút của vật lý nơi thế giới này.

Nên Ngài tuần tự dạy có 6 pháp môn: Năm pháp môn đầu Ngài sử dụng tâm sinh diệt vật lý tánh Người của Ngài dạy, ai thích có thần thông, phép mầu, huyền diệu, kỳ bí và linh thiêng đến học.

Còn một pháp môn sau cùng Ngài sử dụng tánh thanh tịnh trong Phật để dạy, giúp cho những ai muốn thoát ra ngoài sự cuốn hút của vật lý nơi thế giới này biết mà thực hành.

Chúng tôi xin nêu sáu pháp môn nói trên như sau:

Pháp môn thứ nhất: Ngài sử dụng tâm sinh diệt vật lý để dạy tu: Quán, Tưởng, Cầu Mong. Được thành tựu trong phòng nhỏ hẹp nên gọi là “Tiểu thừa”; vì là pháp môn Ngài dạy đầu tiên cho đại chúng nên gọi là “Nguyên thủy”. Pháp môn này các thầy đem về phương nam của nước Ấn Độ truyền bá, nên gọi là “Nam truyền”.

Pháp môn thứ hai: Ngài cũng sử dụng tâm sinh diệt vật lý của tánh Người để luận bàn những chuyện trong vật lý nên gọi là “Trung thừa”.

Vì sao gọi là Trung thừa?

– Vì pháp môn này nằm giữa tiểu và đại nên gọi là Trung thừa. Pháp môn này Đức Phật giảng rất rõ ràng từ vật nhỏ nhất là vi trần, hiện nay gọi là nguyên tử và điện tử. Những vị theo học với Đức Phật, họ cho pháp môn này rất hay, nên các vị gọi là “Triết Lý Phật Thích Ca”.

Pháp môn thứ ba: Ngài cũng sử dụng tâm sinh diệt vật lý của Ngài để nghi, tìm hay kiếm nguyên nhân sanh ra loài người, vũ trụ, vạn vật, công dụng của mỗi thứ và mỗi loài. Vì là mênh mông và trùm khắp, nên gọi là “Đại thừa”; tức giúp cho nhiều người biết tường tận, mạch lạc và khoa học. Các vị thời đó gọi là “Chuyên chở lớn”.

Pháp môn thứ tư: Ngài cũng sử dụng tâm sinh diệt vật lý của Ngài để niệm ba cái vô lượng. Pháp môn này Ngài dạy trong ẩn ý là để giúp người niệm được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”. Các thầy sau này dạy người niệm phải nhớ đến Đức Phật A Di Đà, để vị Phật này rước người niệm về nước của Ngài ở.

Thuở xưa, Đức Phật dạy như thế nào, còn hiện nay quí thầy giải thích ra sao? Vậy, chúng ta cùng tìm hiểu.

Ngày xưa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy:

– Ngài gọi nước “Thanh tịnh” là “Tịnh Độ”.

Vì sao Đức Phật gọi như vậy?

– Xin thưa, vì khi tâm người tu tự nhiên được thanh tịnh, mà không dụng công, tự nhiên được “Rơi vào chỗ Thanh tịnh”. Chỗ Thanh tịnh này chỉ người được rơi mới biết thôi. Vì lẽ đó, không thể nào viết ra thành văn tự được, nên Đức Phật dạy là “Bất lập văn tự”. Vì không viết ra chữ được, nên Đức Phật dạy pháp môn này phải truyền theo dòng Thiền của nó, tức truyền ngoài kinh điển thông thường, mà quí Tổ sư dạy là “Truyền ngoài giáo lý”.

Để chứng minh không nói và viết ra lời và văn được, nên ở Việt Nam chúng ta có trường hợp như sau:

Ngày xưa, vua Trần Nhân Tông tu theo pháp môn Thiền tông học, khi Ngài được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”. Ngài dẹp xong 3 lần quân Nguyên – Mông xâm lược nước ta, Ngài nhường ngôi vua cho con là Trần Anh Tông lên núi Yên Tử lập ra phái “Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử” để dạy pháp môn Thiền tông học này. Có ông quan phụ trách văn hóa Triệu Nhật Trường từ kinh thành lên hỏi Ngài như sau:

– Kính thưa Thái Thượng Hoàng, khi Ngài được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, cảm giác của Ngài như thế nào, xin nói lại cho chúng con nghe?

Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông bảo ông quan phụ trách văn hóa Triệu Nhật Trường:

– Ông về triều đình đi, một năm sau lên đây ta sẽ nói cho ông rõ.

Ông quan phụ trách văn hóa trở về triều đình. Mùa Đông năm sau ông trở lên núi Yên Tử. Đức Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông bảo ông vào trong chùa Đồng ngồi và Ngài đóng cửa chùa Đồng lại. Độ 5 phút sau, ông quan phụ trách Văn hóa Triệu Nhật Trường thưa với Thái Thượng Hoàng:

– Con bị lạnh quá, xin Thái Thượng Hoàng mở cửa cho con ra.

Đức Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông liền mở cửa chùa Đồng ra, ông quan phụ trách văn hóa Triệu Nhật Trường liền nhanh chân bước ra ngoài, thân ông run rẩy!

Đức Thái Thượng Hoàng hỏi ông quan phụ trách băn hóa:

– Vậy, ông hãy tả cái lạnh buốt mà ông ngồi trong chùa Đồng, cái lạnh ấy như thế nào cho ta nghe thử?

Ông quan phụ trách văn hóa Triệu Nhật Trường trình thưa với Đức Thái Thượng Hoàng:

– Dạ, cái cực kỳ lạnh buốt đó, chỉ có con biết được, chớ làm sao con nói lại cho Thái Thượng Hoàng biết được.

Đức Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông bảo:

– Việc ta được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” tự ta biết, chớ làm sao nói cho ông nghe được.

Vì nguyên lý này, cho nên Đức Phật dạy pháp môn Thiền tông học này, khi ai cảm nhận được cái “Thanh tịnh” tự nhiên của chính mình, hay được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, thì không nói cho ai biết được, nên Đức Phật mới nói như trên.

Còn các thầy hiện nay dạy:

– Ai tu niệm Phật A Di Đà, mà nhớ Đức Phật này hoài, sẽ được Ngài rước về nước của Ngài ở, nước của Ngài gọi là nước “Cực Lạc”, tức vui sướng tột cùng. Vì vậy, hiện nay chúng ta thấy người tu theo pháp môn này nhiều nhất là vì họ ham vui tột cùng.

Pháp môn thứ năm: Ngài sử dụng tâm vật lý của tánh Người dạy tu, là dùng câu thần chú để niệm. Thuật niệm câu thần chú là hút điện từ âm dương nơi thế giới này vào tâm vật lý của người niệm. Khi người niệm tích điện từ âm dương được đầy trong tâm và thân mình rồi, liền tưởng cho khối điện từ âm dương ấy bung ra. Nếu người niệm mà để cây đèn đang cháy trước mặt mình, thì lửa của cây đèn sẽ tắt liền, còn để đống cát hay hòn đá trước mặt, thì cát sẽ bay đi, hòn đá bị lăn tròn. Cho nên có câu: “Cát bay đá chạy” là lý do này.

Để làm chi vậy?

– Pháp môn này có công dụng theo chiều vật lý như sau:

1- Người tu theo pháp môn này làm thầy trị bệnh đau nhức hay thần kinh rất hay.
2- Người chung quanh sợ không dám quậy phá mình.
3- Kiếm tiền rất dễ.
4- Còn danh thì nổi như cồn.
V.v…

Pháp môn thứ sáu: Ngài không sử dụng tâm vật lý, mà Ngài chỉ sử dụng Tánh thanh tịnh trong Phật tánh, để cho nó tự nhiên thanh tịnh là phải.

Để chi vậy?

– Nếu vị nào thực hiện được, thì tâm vật lý của vị đó, tự động tách rời và luân chuyển theo dòng luân hồi sinh diệt của nó. Nhờ vậy mà những thứ trong Ý nơi tánh Phật sẽ hiển lộ ra. Pháp môn này, chỉ dành riêng cho những vị có quyết chí cao, muốn giác ngộ và giải thoát thì mới “tu”; còn những người ham mê thành tựu trong vật lý thì không dám ngó chớ nói chi là tu.

Vì vậy, Đức Phật dạy pháp môn này riêng cho những vị có nhiệm vụ dẫn mạch nguồn Thiền tông chảy riêng theo dòng Thiền của nó. Cho nên, hiện nay trong các kinh điển bình thường chúng ta không thấy là vậy.

Tuy nhiên, hiện nay chúng ta thấy nhiều người nói mình dạy pháp môn Thiền tông học này, là họ tưởng tượng ra để dạy.

Vì sao họ tưởng tượng ra?

Đức Phật có dạy rất rõ ràng pháp môn này như sau:

– Bất lập văn tự.

– Giáo ngoại biệt truyền.

Tức:

– Không viết ra thành văn.

– Phải truyền ngoài kinh điển thông thường.

Vì trong kinh sách không có, mà phần nhiều người tu theo đạo Phật là muốn giác ngộ và giải thoát. Vì chỗ quá nhiều người ham muốn đó, nên họ bịa ra, cốt yếu là để tập trung nhiều người lại để họ thu lợi.

Chúng tôi nêu bằng chứng phần này như sau:

Một: Ngày xưa, Đức Phật tuyên dạy pháp môn này, có trên 5.000 người bỏ đi!
Hai: Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói công khai pháp môn này tại các chùa tu trong vật lý, họ cho Tổ Bồ Đề Đạt Ma là ông thầy bị điên, nên tìm cách giết Tổ đến 6 lần, say cùng Tổ bị chết!
Ba: Tổ Huệ Khả nói rộng pháp môn này, người tu theo đạo Phật bảo là phá họ, nên tố cáo với chính quyền bắt giam Tổ cho đến chết!
Bốn: Tổ Huệ Năng khi được truyền Tổ vị, Ngài phải chạy trốn giữa đêm khuya, không dám nói pháp môn này liền, mà phải đợi đến 15 năm sau mới công khai trình cho mọi người biết, Ngài là Tổ sư Thiền tông đời thứ 33. Nhưng Ngài cũng không dám dạy công khai dạy pháp môn Thiền tông học này, mà Ngài chỉ dạy pháp môn Trung thừa là Bát Nhã thôi. Còn pháp môn Thiền tông học này, Tổ quan sát coi vị nào muốn giải thoát thì Tổ mới bí mật dạy riêng cho người đó.

Vì chỗ cực kỳ khó và nguy hiểm đó, nên Đức Phật có dạy như sau:

– Vào các đời sau, vị nào khi nhận được mạch nguồn Thiền tông này, phổ biến cho vài người biết rồi phải lẩn tránh ngay, kẻo bị người tu mà còn ham mê vật lý sát hại!

Vì vậy, pháp môn Thiền tông học này, Đức Phật chỉ dạy cho vị Tổ sư đầu tiên là Ngài Ma Ha Ca Diếp biết thôi.

Vì sao chỉ dạy riêng cho vị này?

– Để vị Tổ sư đầu tiên này, truyền riêng theo dòng Thiền của nó, để giúp cho những vị Tổ sư các đời sau biết.

Đức Phật dạy:

– Pháp môn thiền Thanh tịnh này, phải đợi đến đời Mạt Thượng pháp, khi loài người văn minh lên cao, tức hiểu biết về khoa học rõ ràng, thì sẽ có người nói rõ pháp môn thiền Thanh tịnh này.

ĐứcPhật lại dạy:

– Tuy loài người đã văn minh lên cao rồi đó, nhưng cũng không có bao nhiêu người chấp nhận pháp môn thiền Thanh tịnh này.

Vì sao vậy?

– Vì loài người bị mang 16 thứ của tánh người, trong đó có cái “Tưởng” là mạnh nhất, nên 99% họ sống với tánh ấy. Do vậy, họ bị vướng vào các thứ như sau:

1- Cất chùa to, họ vướng vào chùa ấy.
2- Có tượng Phật lớn, họ vướng vào tượng Phật đó.
3- Ông thầy nói hay, vọ vướng vào ông thầy đó.
4- Có danh tiếng lớn, họ vướng vào cái danh ảo đó.
5- Có nhiều tiền, học vướng vào đống tiền đó.
6- Có địa vị cao, họ vướng vào địa vị ấy.

Trên đây là 6 căn bản mà loài người khó mà vượt qua được. Cho nên, pháp môn thiền Thanh tịnh này, tuy đã được phổ biến công khai rồi, mà cũng không có bao nhiêu người để ý đến. Đã vậy mà, còn muốn hại người phổ biến pháp môn môn thiền Thanh tịnh này.

Đức Phật dạy rõ:

– Pháp môn tu này, đầu tiên Như Lai gọi là thiền Thanh tịnh, từ đời Tổ thứ 2 gọi là Thiền tông.

Vì sao phải đổi danh như vậy?

– Vì pháp môn thiền Thanh tịnh này nó truyền theo “Tông” và “Dòng” riêng của nó, nên Đức Phật dạy gọi là “Thiền tông”.

Người tu theo pháp môn Thiền tông học này có 3 kết quả như sau:

Một: Vị nào hiểu được khái niệm pháp môn này, gọi là giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”.
Hai: Vị nào giải thích được tất cả những ngôn từ của Đức Phật dạy, gọi là đạt được “Bí mật Thiền tông”.
Ba: Vị nào được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, Đức Phật dạy gọi là được “Về đến quê xưa của mình”.

Chúng tôi xin nói thật rõ phần bí yếu của Pháp môn Thiền tông học này: Đức Phật không cho viết ra thành văn, nên được gọi là “Bất lập văn tự”.

Vì pháp môn Thiền tông học này không viết ra văn, nên không truyền theo kinh điển bình thường được, nên được gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”.

Pháp môn Thiền tông học này, Đức Phật chỉ thẳng cái gì là tánh Người, nên được gọi là “Chỉ thẳng nhân tánh”.

Pháp môn Thiền tông học này, Đức Phật nói rõ tánh Phật là gì, ai nhận ra tánh chân thật của mình, nên Như Lai dạy: “Kiến tánh thành Phật”.

Trên đây là những ý chánh mà Đức Phật dạy pháp môn Thiền tông học này, vị nào hiểu rõ thì mới tu theo pháp môn Thiền tông học được; còn không biết rõ các căn bản trên mà đứng ra dạy pháp môn Thiền tông học này là lừa người và bị quả báo rất nặng nề lắm đó!

Loài người hiện nay văn minh cao, nên trí phán đoán của họ rất chính xác, ai tu gì là mê tín, ai tu gì là đúng. Do đó, chúng tôi mới sưu tầm những lời dạy chân thật của Đức Phật, để cống hiến cho quí vị với 4 mục đích chánh như sau:

Một: Nói lên chân thật từ vô hình đến hữu hình mà Như Lai đã dạy trong suốt cuộc đời của Ngài.
Hai: Phá đi những gì không đúng sự thật, giúp cho những ai muốn giác ngộ và giải thoát biết, để không bị người khác lừa mình.
Ba: Vị nào có đầu óc thực tế và khoa học, họ nhận ra rất dễ dàng.
Bốn: Về trật tự xã hội, không làm mất an ninh, để quốc gia mình được an ổn.

Những câu hỏi này chúng tôi ghi âm vào năm 2010, nên ghi số tuổi những người hỏi ở thời điểm đó.

(Người sưu tầm Thiền học Phật giáo – kiêm tác giả NGUYỄN NHÂN tức Nguyễn Công Nhân.)

Quyển 5: Khai thị Thiền tông
Nội dung Quyển 5 nói về Dòng chảy của mạch nguồn Thiền tông; lời dạy sau cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết Bàn; sự tích Đức Phật độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu; những người đọc sách giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”; lời cảm ơn và phản bác của độc giả; một số câu hỏi tuyệt cao. Đặc biệt đĩa này chỉ dành cho những người thực sự muốn Giác Ngộ và Giải thoát mới xem, còn người coi trọng hiện tượng lạ nơi trần gian này không nên xem, vì đây là đĩa chỉ rõ sự tột cùng của ý sâu mầu của Đức Phật dạy nơi thế giới này. Vì chỗ đó nên Ngài mới dạy “Trong 49 năm qua, ta chưa hề nói một lời nào” …

—> Xin trích một phần nội dung của sách:

01. LỜI KHUYÊN CỦA SOẠN GIẢ

Sách Khai thị Thiền tông này dành riêng cho những người:

* Hiểu Phật pháp cao sâu mới đọc.

* Người coi trọng hiện tượng lạ nơi trần gian này không nên xem.

* Nói tóm lại, chỉ dành riêng cho những vị muốn tu giác ngộ và giải thoát, mới xem.

Vì sao vậy?

– Vì đây là sách chỉ rõ và tột cùng ý sâu mầu của Đức Phật muốn dạy nơi Thế giới này. Vì chỗ tột cùng, sâu mầu và khó hiểu đó, nên Đức Phật đã nói:

– “Trong 49 năm ta chưa hề nói một lời nào”!

Đức Phật thuyết kinh trong 49 năm, mà Ngài còn phủi bỏ hết, thì người không hiểu saâu đạo Phật làm sao hiểu nổi. Do đó, chúng tôi khuyên người còn chấp học vị của mình, cho sự hiểu biết của mình là hơn hết, khoâng neân đọc là vậy.

Làm sao biết được các hạng người này?

Một: Người đọc sách viết về thiền học rất cao này. Khi đọc, thấy thích thú và hăng say là người đó có duyên, người này chỉ đọc đi đọc lại chừng 2 lần, chắc chắn nhận ra ý cao sâu lời dạy của Đức Phật.

Hai: Người đọc sách này, nghe người mình không thích đọc, là người không có duyên, nên thôi vậy.

Sách này, chỉ rõ về dòng chảy của “Mạch nguồn Thiền tông” và những lời dạy sau cùng của Đức Phật vào những giờ phút chót trước khi Ngài nhập Niết bàn. Do đó, người tu theo đạo Phật muốn giác ngộ giải thoát mới nên xem; còn người không muốn, nên thôi.

Người không muốn, mà cố gắng xem, càng xem càng bị nhức đầu! Do đó, chỉ khởi một ý niệm nhỏ, xem thường, hoặc khinh chê sẽ bị luật nhân quả tự nhiên của vật lý nơi thế giới này “kéo” vào chỗ cực thấp trong lục đạo luân hồi!

Đức Phật dạy rõ ràng nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa:

– Người chửi Như Lai, tội không nặng bằng người khinh chê pháp môn sâu mầu mà Như Lai dạy nơi cõi Ta bà này!

Xin nói rõ thêm, từ mặt bằng rộng lớn nơi núi Linh Sơn thuở xa xưa ấy, Đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, khi Như Lai nói đến chỗ chân thật sâu mầu về thiền Thanh tịnh , có trên 5.000 người phủi áo bỏ ra đi! Thì thử hỏi, người ở vào thời Mạt Thượng phàp như chúng ta, có ai chấp nhận nghe lời dạy Đức Phật không?

Vì sao họ bỏ đi?

– Vì họ đã tu thành tựu các pháp môn Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa rồi, họ chấp chặt, cho các pháp môn ấy là chân thật, nên họ không chịu nổi sức “công phá” của pháp môn tu Thanh tịnh thiền này, nên họ bỏ đi! Còn những người ở lại, họ cho Đức Phật bị Ma ám!

Vì ở thế chẳng đặng đừng, nên bắt buộc Đức Phật phải dùng “Siêu đại thần lực của Thanh tịnh thiền”, cho những người còn ở lại, ai ai cảm nhận được sự kỳ diệu của pháp môn Thanh tịnh thiền này. Còn vị nào làm đúng theo lời Đức Phật dạy sẽ được “rơi vào Bể tnh Thanh tịnh Phật tánh”! Ấy vậy mà chỉ cĩ một mình Ngài Xá Lợi Phất vào được Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh mà thôi, còn bao nhiêu người vô phần, trong đó có rất nhiều vị tu đã đạt được những quả vị cao.

Đó là chuyện của thời Đức Phật, còn sau này, thiền sư Đức Sơn ở nước Trung Hoa, ông giác ngộ được “Bí mật Thiền tông” rồi, khi nói đến pháp môn Thanh tịnh thiền này, đối với những pháp môn tu khác, ông nói lời lẽ quá tội lỗi, chúng tôi không dám lập lại!

Vì chỗ quá đặc biệt như nêu trên, nên người viết ra quyển sách này khuyên người đọc sách nên cẩn thận.

Đức Phật đã dạy: Ai nhận ra “Bí mật Thiền tông”, mới biết mình tu có vượt ra ngoài tam giới, hay còn đbị đi trong lục đạo luân hồi!

Soạn giả kiêm tác giả NGUYỄN NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân

02. LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa độc giả!

Quyển sách “Khai thị Thiền tông” này là sản phẩm của bốn quyển sách:

* Tu theo pháp môn nào của đạo Phật dễ giác ngộ.

* Những câu hỏi về Thiền tông 1 và 2.

* Hành đúng phương pháp Phật dạy chắc chắn được giải thoát.

Đây là quyển sách thứ năm mà chúng tôi viết một loạt về thiền học Phật giáo, được rất nhiều người đọc và cũng được nhiều người hỏi, mà hỏi đến chỗ cao tột và sâu mầu lời Đức Phật dạy từ trước đến nay chưa ai hỏi, hoặc có hỏi, nhưng những người trả lời không làm thỏa mãn cho người đọc được. Do đó họ bảo, họ có đại duyên laém, đại phúc lắm mới đọc được sách viết về Thiền tông học này, đvì đây là sách viết chỉ đến chỗ tuyệt cao của Đức Phật dạy từ trước đến nay chưa tìm thấy nơi đâu?

Họ lại bảo, những quyển sách nêu trên, giúp cho những ai hành đúng theo lời chỉ dạy của Đức Phật sẽ vượt ra ngoài tam giới, tức không còn bị sức hút của vật lý âm dương, trong tam giới này. Vì bị lực hút đó, nên tạo thành cái nhân ban đầu, để đưa đến kết dính của nhân duyên. Vì có nhân duyên, nên sanh ra kết quả, cho nên Đức Phật gọi là nhân quả. Vì bị nhân quả, nên mới có lục đạo luân hồi, như:

– Các tầng Địa ngục.

– Các loài Ngạ quỉ.

– Các loài Súc sanh.

– Các loài Người.

– Các loài Thần.

– Các cõi Trời.

Trong quyển sách này, chúng tôi nêu các mục chánh như sau:

1- Chỉ rõ dòng chảy của “Mạch nguồn Thiền tông”.

2- Trích một phần nhỏ những lời dạy sau cùng của Đức Phật.

3- Nêu tên những người đọc sách nhận ra “Yếu chỉ Thiền tông”.

4- Lời cám ơn của những vị đgiac ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”.

5- Một số câu hỏi tuyệt cao, chưa sách nào đề cập đến.

6- Những lời phản bác của những vị đọc sách.

7- Kết luận.

Vì quá nhiều mục quan trọng nói trên, nhiều người đọc sách do chúng tôi viết, hoặc họ hỏi trực tiếp nơi vị Trưởng ban quản trị chùa Thiền tông Tân Diệu. Họ được trả lời đến chỗ sâu mầu, nên yêu cầu chúng tôi viết thêm quyển sách này. Trước, để phà tan những những sự hiểu lầm của những người tìm hiểu đạo Phật. Sau, giúp cho những ai tu theo đạo Phật muốn giác ngộ, giải thoát, có phương cách thực hành cho đúng.

Sau cùng, giúp cho những người tu theo đạo Phật đụng đâu tin đó, hay tu theo những lời chỉ dạy của những vị thầy không đạt ý sâu mầu của Phật ngôn, làm uổng công cho một đời người tu tập theo lời Đức Phật dạy; cũng có thể nói, cả đời làm những chuyện phí công vô ích!

(Nhà sưu tầm thiền học Phật giáo, soạn giả kiêm tác giả Nguyễn Nhân, tức Nguyễn Công Nhân).

Quyển 6: Huyền ký của Đức Phật và những vị Ngộ thiền
Nội dung Quyển 6 nói về Bài kệ của Đức Phật nói về sự Ngộ thiền của ông Ma-Ha-Ca-Diếp; bài kệ 80 câu Đức Phật dạy những gì trong Bể Tánh Thanh Tịnh Phật Tánh; Đức Phật độ cụ ông Tu-Bạt-Đà-La (Thường Pháp Tín); bài kệ của Thiền sư Thần Tán độ thầy; Ngũ Tổ truyền Thiền tông; bài kệ 204 câu của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Đặc biệt hơn là những bài kệ Ngộ thiền của những người trong nước; người ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương và Châu Phi…

—> Xin giới thiệu một phần nội dung của sách dưới đây:

LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa độc giả:

Chủ trương của Đạo Phật là giác ngộ, giải thoát và để trở về nguồn cội của mỗi người, nói theo tiếng bình dân của người Việt Nam là hiểu biết, không còn bị ràng buộc những thứ trong vật lý trần gian này. Ban đầu, Thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn trị vì nước Ca Tỳ La Vệ, có 4 cái thắc mắc chánh như sau:

1- Con người từ đâu đến với thế giới này?
2- Con người đến với thế giới này để rồi bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết!
3- Nhưng khi còn ở nơi thế giới này, tranh giành chém giết với nhau để hơn thua, sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả!
4- Sau khi chết rồi sẽ đi về đâu?

Bốn cái thắc mắc nói trên, Thái tử Tất Đạt Đa đã tìm ra được câu giải đáp, nên gọi Ngài là bậc giác ngộ, tức hiểu biết.Vì Ngài hiểu biết rất rõ ràng, tường tận, mạch lạc và khoa học, nên người thời đó tôn Ngài là Đấng giác ngộ và gọi Ngài là Bụt Đa, người Trung Hoa gọi Ngài là Phật Đà, còn người Việt Nam chúng ta gọi Ngài là Đức Phật.

Nói tóm lại, các danh từ trên chỉ cho một vị hiểu biết chân thật trong càn khôn vũ trụ này. Vì vậy, Ngài được danh hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni, tức vị hiểu biết tất cả những gì trong vật lý và ngoài vật lý, cũng là vị giáo chủ trong cõi Ta bà này, không ai hơn Ngài được.

Vì sao không ai hơn Ngài được?

– Vì Ngài là một con người khám phá ra những nguyên lý cấu tạo từ vật chất đến tinh thần, từ động vật cũng như thực vật, và đưa ra được phương cách vượt ra ngoài sự ràng buộc của vật lý trần gian này. Ngài nói được và thực hiện được, một cách hết sức khoa học và thực tế, nên Ngài muốn đem cái hiểu biết của mình để chỉ dạy lại cho tất cả những ai muốn biết nguyên lý ấy, theo “công thức” của Ngài mà thực hành để trở về sống với nguồn cội của chính mình, tức không còn bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết nữa! Nguyên lý này, Ngài dạy sau cùng nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng một loạt ẩn ý:

* KHAI – THỊ – NGỘ – NHẬP – PHẬT – TRI – KIẾN của mỗi người.

Chúng tôi xin tạm dịch:

* MỞ – THẤY – HIỂU – VÀO – TRÙM KHẮP – BIẾT – THẤY, tánh chân thật của mỗi người.

Trên đây là 7 chữ ngắn gọn mà Ngài dạy sau cùng nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Kinh này có 28 phẩm, mà đã chỉ hết con đường từ một người là phàm phu để trở thành là một vị Phật, người nào muốn đến quả vị trên, phải tìm hiểu căn bản như dưới đây thì mới mong thành tựu được:

Thứ nhất:

1- Cái gì là tâm của chính mình?
2- Cái gì là thân của chính mình?
3- Tại sao con người có sai biệt?
4- Chân thật trong vũ trụ này là gì?
5- Trong tam giới này cấu tạo bởi những gì?
6- Tại sao loài người bị vướng vào trong ấy?

* Ai biết rõ 6 mục trên, là đã giác ngộ rồi.

* Nếu thực hiện được, là giải thoát!

Chỉ có đơn giản như vậy thôi, vì chúng ta tưởng tượng nhiều mà sai với lời của Ngài dạy. Do đó, nhiều người tu theo đạo Phật cả đời mà không có kết quả gì! Trái lại, đem đạo lý thực tế, khoa học và cao sâu của Ngài thành đạo mê tín dị đoan. Vô tình, chúng ta làm cho những vị học cao hiểu rộng, chê cười đạo Phật là đạo thần quyền, không đáp ứng với thời đại văn minh cao hiện nay! Cũng là tạo đường tốt để đi trong 6 nẻo luân hồi, không ngày cùng!

Sáu thắc mắc nói trên, người tu theo đạo Phật, hay người muốn tìm hiểu đạo này, phải thông suốt, thì mới đúng được, còn không rõ thông 6 mục nêu trên, dù có tìm hiểu hay tu theo đạo Phật 1.000 năm cũng chẳng ăn thua gì!

Vì sao chúng tôi khẳng định như vậy?

Xin thưa, vì giống như hiện nay, ai muốn tạo thành nguồn điện, phải biết công thức làm ra điện, thì mới mong có điện sử dụng được; còn không biết công thức mà làm, làm uổng công phí sức, không có kết quả gì!

Vì sao chúng tôi lại nêu phần này ra?

Cũng xin thưa, vì hiện nay chúng tôi thấy có quá nhiều người nói mình tu theo đạo Phật, hoặc tìm hiểu đạo này, mà họ càng tu, càng sai, càng tìm hiểu lại làm không đúng với lời của Đức Phật dạy. Đã không làm đúng với lời của Đức Phật dạy, mà còn thêu dệt thêm, tô điểm thêm, làm lời dạy của Ngài đi chệch hướng, mất đi cái tinh ba cao quí mà Ngài đã tìm ra và dạy nơi thế giới này.

Chúng tôi là người sưu tầm, may mắn là đã nhận ra ẩn ý sâu mầu của Đức Phật dạy, thấy phải có bổn phận nhắc nhở lời Ngài dạy, nên biên soạn và viết ra tập sách này. Trước, để giúp cho quí học giả muốn tìm hiểu đạo Phật, hiểu cho đúng. Sau, giúp cho những vị tu theo đạo Phật chân chánh, tu không sai lời Ngài dạy, để được giác ngộ, cũng từ chỗ hiểu biết này, nếu thực hiện đúng, thì mới giải thoát được.

Thứ hai:

Ai muốn tìm hiểu những lời của Đức Phật dạy, xin quí vị tìm đọc một loạt sách của chúng tôi viết, trong đó có trên 100 câu hỏi mà những vị độc giả đã hỏi. Quí vị không ngờ rằng, những câu hỏi cao tột ấy, từ trước đến nay chưa ai hỏi đến, cũng nhờ những câu hỏi này, mà rất nhiều người hiểu lời Đức Phật dạy, nói theo Nhà Phật gọi là ngộ đạo, những người giác ngộ lời Đức Phật dạy chúng tôi có nêu địa chỉ rõ ràng.

Khi quí vị đọc hết những quyển sách trên mà chưa ngộ đạo, thì cố gắng đọc thêm tập sách này hoặc nghe thêm băng về Huyền ký của Đức Phật nói về cách tu Thiền tông, mà chúng tôi chép ra đĩa để những vị bận rộn, không có thì giờ xem sách để nghe, vị nào nghe qua một lần mà thích, chắc chắn vị đó có duyênn lớn với Thiền tông học, nếu cố gắng nghe thêm từ 5 hay 7 lần mà không nhận ra cái tâm chân thật của chính mình, muốn nói chúng tôi bằng ngôn từ gì cũng được!

Để chứng minh phần này, chúng tôi xin nêu tên tuổi của những vị đọc sách viết về thiền học mà chúng tôi đã xuất bản, có rất nhiều vị ngộ thiền, vì có quá nhiều người ngộ thiền, nên chúng tôi chỉ chiết ra vài chục vị ngộ thiền ở trong nước và ngoài nước mà có làm kệ hoặc thơ. Còn nếu quí vị xem sách hoặc nghe hết đoạn băng Huyền ký này mà không ngộ đạo nữa là chúng tôi xin chịu!

Vì sao chúng tôi xin chịu?

Vì quí vị không chịu “sử dụng” tánh Phật của chính mình để: Thấy, Nghe, Biết! Mà quí vị lại “sử dụng” tánh Phàm phu của chính mình để: Thấy, Nghe, Biết! Có nghĩa là quí vị sử dụng 8 muôn 4 ngàn những thứ trong vật lý trần gian này! Vì chỗ quí vị sử dụng các cái tánh của sức hút vật lý âm dương, thì thôi, quí vị đừng xem và nghe tập sách Huyền ký này, quí vị cứ thoải mái đi trong lục đạo luân hồi, để tôn thờ người lường gạt mình đúng với ý muốn của họ.

Người sưu tầm và biên soạn kiêm tác giả NGUYỄN NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân.

Dẫn nhập vào lời dạy của Đức Phật và những vị ngộ thiền:

Pháp môn tu Thiền tông, là pháp môn không truyền theo các kinh điển, mà Như Lai chỉ dạy riêng cho các vị Tổ sư Thiền tông. Do đó, chúng ta hiện không thấy bất cứ nơi đâu dạy pháp môn Thiền tông này.

Tuy nhiên, hiện chúng tôi nghe có vài nơi dạy pháp môn Thiền tông học này, và cũng tuyên bố là đã khôi phục lại Thiền tông. Nhưng khi chúng tôi tìm hiểu thì không phải như những lời của Đức Phật dạy trong Huyền Ký. Lời của những vị này, đọc sách của các vị Tổ sư thiền xưa, họ tưởng là Thiền tông, nên họ tưởng tượng ra, rồi dụng công tu thiền kiểu này, hành thiền kiểu nọ, có kết quả theo vật lý, nên không giải thoát được.

Vì sao họ tưởng tượng ra?

Vì họ đang sống trong vật lý quá lâu, họ bị vật lý bao phủ quá dày, nên phải tưởng tượng ra để dụ nhiều người đến nghe để họ được cái lợi lớn.

Chúng ta thử tìm hiểu như dưới đây thì sẽ biết pháp môn Thiền tông hiện nay nhiều người đang giảng dạy, có đúng là pháp môn Thiền tông mà Như Lai đã dạy trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay không.

Ngày xưa, khi Đức Phật tuyên dạy pháp môn Thiền tông học này, ở nơi hội của Ngài có trên 7 ngàn người; nhưng đã bỏ đi trên 5 ngàn người, chỉ còn lại có 1.250 vị. Có nghĩa là pháp môn Thiền tông học này cực “Dương”, tức cực mạnh đi theo chiều lên, nên những người đi tìm kiếm những mầu nhiệm hay bí ẩn trong vật lý, tức họ đi tìm chiều cực “Âm”, nên không thể nào chịu nổi, họ phải bỏ đi. Còn hiện nay, nếu vị Thầy nào tuyên bố mình dạy pháp môn Thiền tông học này, mà rất nhiều người đến nghe, thì vị Thầy ấy dạy Thiền tông của vật lý, tức dạy Thiền tông của chiều “AÂm”, neân được nhiều người đến nghe.

Khả năng tuyệt diệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như vậy, mà Như Lai chỉ độ được có 1 vị vào được “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”. Một số ít người đạt được “Bí mật Thiền tông”, còn giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” cũng không có là bao.

Còn từ đời Tổ thứ nhất đến đời Tổ thứ 32, các vị ấy, chỉ độ có 1 người mà thôi. Đến đời Tổ thứ 33 là Ngài Huệ Năng thì có nhiều người ngộ Thiền tông hơn, nhưng cũng không có bao nhiêu người đạt được “Bí mật Thiền tông”. Theo đánh giá của thiền sư Bá Trượng: Một trăm người giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”, chỉ có 1 đvị đạt được “Bí mật Thiền tông” thôi.

Như vậy, pháp môn Thiền tông này khó khăn quá mức. Vì chỗ cực khó đó, nên Đức Phật có dạy: “Vào các đời sau, vị nào nhận được mạch nguồn Thiền tông, khi phổ biến được 5 hay 10 người biết, tức khắc phải lẫn tránh ngay!”

Vì sao vậy?

– Vì loài người đang sống trong cực mạnh của sức hút vật lý âm dương; âm dương là do Ma Vương cai quản. Vì vậy, ai quyết chí tu theo pháp môn Thiền tông học này, cũng có nghĩa là trực diện đối đầu với Ma Vương, thì khó mà vượt qua vòng phong toả của Ma Vương được!

Vì chỗ cực kỳ nguy hiểm và khó đó, nên chúng tôi nhớ lại:

– Thuở xưa, khi Như Lai khám phá ra pháp môn Thiền tông học này. Ma Vương đến khuấy phá không được, nên Ma Vương có lời nguyền rằng:

– Này ông Cồ Đàm, hiện ta không làm gì được ông, nhưng sau này các đệ tử của ông, dù lớn hay nhỏ, bề ngoài ăn mặc theo ông, nói là tu hành theo ông, chứ sự thật, họ làm theo ý của ta cả!

Để kiểm chứng phần thệ nguyền này, Tổ sư Thiền tông đời thứ 28 là Ngài Bồ Đề Đạt Ma. Khi Ngài truyền Thiền tông cho Tổ Huệ Khả rồi, Ngài nói rộng pháp môn Thiền tông học này, Ngài bị những người tu theo sự cai quản của Ma Vương, họ tìm cách giết Tổ bằng cách, cho Tổ uống nước trà có bỏ thuốc độc để giết Tổ!

Tổ Huệ Khả thử nghiệm lần thứ hai, Tổ cũng bị các người tu theo ý của Ma Vương, họ lo lót cho những người có thế lực trong chánh quyền, bắt giam Tổ và gán cho Tổ tội phản quốc, nên Tổ bị giam cho đến chết!

Thấy gương Đức Phật và hai vị Tổ sư xưa, nên khi Ngài Lư Huệ Năng được truyền “Bí mật Thiền tông” rồi, không dám nói ra pháp mon tu Thiền tông học này liền, mà phải chạy trốn giữa đêm khuya, đợi đến mười lăm năm sau mới dạy, mà Ngài cũng không dám dạy pháp môn Thiền tông học này, Ngài chỉ giảng dạy pháp môn Trung thừa thôi, tức dạy những lý luận của pháp môn Bát Nhã.

Còn pháp môn Thiền tông học này, Ngài chỉ dạy rieâng cho đệ tử nào Ngài thấy vị ấy có khả năng trực nhận được. Vì vậy, suốt mấy chục năm dạy đạo của Ngài, cũng không có bao nhiêu người đạt được “Bí mật Thiền tông”, còn giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” thì có nhiều hơn. Pháp môn Thiền tông này, Ngài không dám nói trắng ra, mà khi nào có ai hỏi đến chỗ chân thật thì Ngài mới nói. Vì vậy, các vị muốn biết chỗ chân thật này, khi hỏi các Ngài, các Ngài không giải thích, mà chỉ đánh, đạp, nói lạc đề hay há miệng ra mà không nói. Vì chỗ khoâng được phép nói trắng ra đó, nên mỗi người tưởng tượng ra một cách dạy pháp môn tu Thiền tông này.

Vì chỗ tưởng tượng đó, nên hiện nay chúng ta thấy có nhiều thầy giảng Thiền tông là do tưởng tượng ra để giảng. Vì vậy, các vị ấy giảng rất nhiều, dùng đủ thứ phương tiện, thế mà không ai giác ngộ được “Yếu chỉ Thiền tông”, chớ đừng nói chi đạt được “Bí mật Thiền tông”.

Pháp môn Thiền tông này được truyền ngoài giáo lý, nên không tìm thấy trong các kinh sách bình thường. Do vậy, chúng tôi mới nói, quí vị đi tìm nơi quí thầy giảng Thiền tông trong vật lý cả đời cũng không tìm được!

Vì chỗ quá đặc biệt đó, nên chúng tôi chưa thấy hay biết có vị thầy nào giác ngộ được “Yếu chỉ Thiền tông”, chớ đừng nói chi đạt được “Bí mật Thiền tông”. Vì vậy, chúng tôi có lời khuyên như sau:

Lời khuyên của người viết sách

Tập sách này dành riêng cho những ai thích tìm hiểu hay tu Thiền tông đúng với lời Đức Phật dạy mới xem, còn những người ham thần quyền sợ thần linh, thôi xin đừng xem.

Vì sao đừng xem?

Xin thưa, vì những Đấng mà quí vị tôn thờ họ, họ không đồng ý bất cứ ai tu theo họ mà không bị sự quản lý chặt của họ. Do đó, họ sẽ có những hành động làm hại đến quí vị. Vì lý do nêu trên, một lần nữa, chúng tôi khẩn xin quí vị nên nghe theo lời Đấng mình tôn thờ, để không bị lỗi đạo.

Quyển 7: Đức Phật dạy Tu Thiền tông và Công thức Giải Thoát
Nội dung Quyển 7 nói về Cuộc đời, Xuất gia, Tu hành và Dạy đạo của Thái Tử Tất-Đạt-Đa; Đức Phật dạy về 10 pháp giới; Đức Phật dạy “Tu” Thanh Tịnh Thiền; một số câu hỏi đặc biệt mà từ trước đến nay chưa ai hỏi; Đức Lục Tổ dạy ý sâu mầu của Pháp môn Thiền tông học; Đức Lục Tổ dạy việc cấp giấy chứng nhận cho người đạt “Yếu chỉ Thiền tông” và “Bí mật Thiền tông”. Đặc biệt là công thức Giải thoát mà Đức Phật dạy để vượt ra ngoài Tam Giới …

… Xin trích một phần nội dung sách dưới đây:

LỜI NÓI ĐẦU

    Kính thưa quý độc giả:

       Thái  tử Tất Đạt Đa tu hành chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni và thành lập ra đạo Phật. Trong 49 năm, Ngài đi nói về chân thật nơi Thế giới và Vũ trụ này, và dạy 6 pháp môn tu chánh như sau:

     Một: Tiểu Thừa

     Ai muốn tu biến vật thể từ nhỏ ra lớn hay  trùm khắp. Ngài dạy pháp môn tu thiền “Quán” và “Tưởng”. Pháp môn này, Đức Phật dạy ban đầu nên gọi là Nguyên thủy. Nói theo hình tướng: Pháp môn này thành tựu rất nhỏ nên  gọi là Tiểu thừa. Người dụng công tu để có những hiện tượng lạ như:

      – Quán, Tưởng tô nước để trước mặt cho loan ra trùm khắp cả phòng, hoặc là màu đỏ của đóm lửa cây nhang,  loan ra trùm khắp. Pháp môn này hiện nay được rất nhiều nước áp dụng, như:Tích Lan(Sri Lanka). Miến Điện. Lào. Campuchia. Một phần miền Nam Việt Nam.

     Hai: Trung Thừa

     Đức Phật dạy “Lý luận”. Pháp môn này gọi là “Triết lý Phật Thích Ca”. Người tu theo pháp môn này phần nhiều đi làm Giảng sư:  Lý luận về lời dạy của Đức Phật, cho nhiều người hiểu, chứ về giải thoát, pháp môn này không  biết được! Vì nằm giữa hai pháp môn Tiểu và Đại nên gọi là Trung thừa.

     Ba: Đại thừa

     Ai tu muốn tìm hiểu từ vật nhỏ hay lớn và khắp nơi Thế giới hay trong Vũ trụ này, Đức Phật dạy pháp “Nghi” và “Tìm”. Pháp môn này, giúp người tu  biết rất rõ ràng, tường tận, từ vật nhỏ hoặc lớn. Người tu biết rất mênh mông trong Vũ trụ, nên gọi là Đại thừa.

     Pháp môn này các Nhà Khoa học rất thích, nên họ áp dụng và tìm ra được sự thật bên sau vật chất, hay ẩn sâu trong vạn vật, được thành công rất nhiều. Các Nhà Khoa học gọi là “Phát minh”.

     Còn người tu theo Phật giáo hiện nay, rất ít người tu pháp môn này, mà chỉ nghe họ nói, mình tu theo Đại thừa Phật giáo, chứ không thấy họ thực hành!

     Vì sao không thấy họ thực hành?

     – Vì họ không biết!

     Khi Đức Phật dạy 3 pháp môn tu: Tiểu, Trung và Đại thừa rồi, những người theo học với Ngài, họ  thắc mắc nên hỏi:

     – Kính thưa Đấng Gô-Ta-Ma (cũng gọi là Cồ Đàm): Chúng tôi theo Ngài tu, nghe Ngài dạy các pháp môn: Tiểu, Trung và Đại thừa, nhưng chúng tôi không thấy hợp.Vậy, Ngài có pháp môn tu nào để đến chỗ sung sướng hay có những điều đặc biệt kỳ bí không, xin Ngài chỉ dạy cho chúng tôi?

     Đức Phật thấy trong Giáo đoàn của Ngài mỗi ngày một ít người đến học, nên sẵn có người hỏi pháp tu để hưởng sung sướng và kỳ bí, nên Đức Phật dạy thêm 2 pháp môn tu nữa:

     Bốn:  Tịnh độ

     Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Ai muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt hảo, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông ca hót, toàn là những thứ chim quí. Quí ông  tu theo pháp môn “Tịnh Độ”.

     Sao gọi là Tịnh Độ?

     – Tịnh, là Thanh tịnh.

     – Độ, là đưa qua.

     Đưa qua đâu?

     – Vì các ông đang sống trong ồn ào luân chuyển của Vật lý Thế giới và bị sức hút của Âm Dương, nên không ai an ổn được! Pháp môn tu này đưa các ông đến nơi thanh tịnh, các ông không còn bị luân hồi nữa.

     Như Lai dạy các ông cách tu pháp môn này như sau:

     Khi Tâm các ông thật sự thanh tịnh, có hiện tượng gì, tức khắc nhận ngay. Nếu không có duyên nhận, liền niệm Phật A Di Đà; mà phải niệm cho đến khi nào Tâm mình không còn một niệm, tức là vô niệm. Đến đây, các ông sẽ thấy được lần thứ 2, liền nhận. Nếu không nhận được nữa, thì thôi, Đức Phật “A Di Đà”  và các vị “Phụ tá” của Ngài sẽ đến rước người niệm về nước của Ngài ở. Cõi của Ngài ở rất thanh tịnh, trang nghiêm và có đủ thứ mà các Ông Bà ham muốn. Vì vậy, nước của Ngài được gọi là “Tịnh Độ”.

     Năm: Mật chú

     Pháp môn thứ 2 là niệm “Mật chú”: Pháp môn tu này các ông dùng câu “Thần chú” để niệm, các ông cũng niệm liên tục, niệm cho đến khi nào tiếng niệm của các ông không còn nữa, tức khắc các ông bị “rơi vào trạng thái rất kỳ diệu”; cái kỳ diệu đó, ở Thế giới này các ông không tìm thấy bất cứ nơi đâu. Pháp môn niệm Mật chú này, Như Lai gọi là tu “Mật Chú tông”. Khi Tâm được thật sự thanh tịnh rồi, các ông muốn gì, thì những hiện tượng ấy sẽ hiện ra!

     Sáu: – Thanh tịnh thiền

     Ai muốn tu giác ngộ để được giải thoát, Đức Phật dạy pháp môn tu “Tối Thượng thừa thiền”. Pháp môn này không Quán, không Tưởng, cũng không Lý luận hay không Nghi Tìm gì cả, mà chỉ cần để Tâm tự nhiên:

    – “Thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri”.

    Khi thuần thục sẽ “bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận”. Đức Phật gọi là “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” cũng gọi là “quê hương chân thật của mỗi người”. Vào đây, không còn bị sức hút của Vật lý Thế giới này nữa, nên được giải thoát!

(Người sưu tầm, biên soạn kiêm tác giả NGUYỄN  NHÂN, tức Nguyễn Công Nhân)

Quyển 8: Cuộc đời & Ngộ đạo của 36 Vị Tổ sư Thiền tông Ấn Độ -Trung Hoa -Việt Nam
Nội dung Quyển 8 nói về Cuộc đời và Ngộ đạo của Những vị Tổ sư Thiền tông của Ấn Độ như Tổ Ma-Ha-Ca-Diếp, Tổ A-Nan, … Tổ Bát-Nhã-Đa-La, Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma; những vị Tổ của Trung Hoa như Tổ Huệ-Khả, Tổ Tăng-Xán, Tổ Đạo-Tín, Tổ Hoằng-Nhẫn và Tổ Huệ-Năng. Đặc biệt sau cùng là 3 vị Tổ của Việt Nam như Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng – Phật hoàng Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang

… Xin trích một phần nội dung sách dưới đây:

 LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa độc giả.

Pháp môn tu Thiền tông học, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy nơi thế giới này là pháp môn Ngài không sử dụng bất cứ thứ  gì trong vật lý trần gian để dạy. Vì vậy, pháp môn Thiền tông học được xếp vào hàng “tuyệt mật” của Phật giáo. Vì chỗ tuyệt mật đó, nên ít người nhận ra được, cũng bởi lẽ đó, hiện nay chúng tôi chưa thấy có vị nào biết pháp môn tu Thiền tông học này chính xác cả.

Chúng tôi viết ra quyển Cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư Thiền tông này với mục đích chánh như sau:

1– Muốn nói lên thân thế và cuộc đời của 36 vị Tổ sư Thiền tông một cách thực tế và khoa học.

2– Không đem những chuyện hư ảo và huyền bí nêu trong 36 vị Tổ sư Thiền tông học này như nhiều vị đã viết ra trước đây.

Vì sao phải nói thực tế và khoa học như vậy?

– Xin kính thưa, vì hiện nay loài người văn minh đã lên cao, học vấn hơn hẳn người xưa, không ai chấp nhận những gì mà họ biết mù mờ không thực tế hay huyền bí cả. Vì chỗ đó, nên chúng tôi không nêu những thứ linh thiêng và huyền bí vào đây, cốt để pháp môn Thiền tông học này đúng với giá trị thực của nó.

3– Hiện nay, các Nhà Khoa học, Nhà Vật lý học, Nhà Bác học và những người có học thức cao, v.v… họ không chấp nhận những chuyện huyền bí linh thiêng mà người xưa nói và bày ra.

Vì sao vậy?

Vì những hiện tượng xảy ra hằng ngày là do biến chuyển của vật lý, các vị nói trên biết một cách hết sức rõ ràng và khoa học.

Họ bảo:

Những chuyện linh thiêng có tánh cách thần bí hãy để cho người kém hiểu biết tin.Vì những người này thích những chuyện ấy, nên trúng ý của những người khôn lanh, nên họ thêu dệt thêm để họ được lợi như:

1– Được người khác kính nể và ăn trên ngồi trước.

2– Không lao động mà cũng có tiền xài.

3– Họ thấy dễ lường gạt quá.

Người trí thức ngày nay hỏi:

– Những chuyện linh thiêng mà người xưa nói, sao chúng tôi đã sống đến tám, chín mươi tuổi rồi mà chưa từng thấy. Do vậy, họ bảo những chuyện linh thiêng của người xưa nói là họ có ý đồ không tốt, chứ không phải là sự thật.

Quí vị lại hỏi, còn pháp môn Thiền tông học Nhà Phật này thì sao?

Cũng xin kính thưa, pháp môn Thiền tông học này là pháp môn rất thực tế và khoa học, giúp cho những ai muốn trở về quê hương chân thật của chính mình, nếu thực hành đúng lời Đức Phật dạy sẽ được toại nguyện, tức không bị ai lừa mình cả, nhưng qúi vị phải hiểu, người “tu” theo pháp môn Thiền tông học này phải biết các điều căn bản như sau:

    1– Ai tu sử dụng nhân duyên của vật lý thì có kết quả theo chiều vật lý, tức còn bị đi trong 6 nẻo luân hồi!
    2– Trong vật lý mà làm bất cứ thứ gì đều phải có kết quả của vật lý.
    3– Người tu không sử dụng những thứ trong vật lý, tức không làm theo vật lý, đồng nghĩa từ bỏ vật lý, Đức Phật gọi là “Vô trụ với vật lý, là giải thoát”. Phần giải thoát này, có “công thức” đàng hoàng chứ không phải nói suông. Nếu quí vị muốn thử thực tế pháp môn Thiền tông học này thì xin thử như sau:

1 – Tâm vật lý thanh tịnh rỗng lặng và hằng tri, khi thuần thục sẽ cảm nhận được sự kỳ diệu của Thanh tịnh thiền:
    2– Đầu tiên, thân tâm vật lý của mình dường như không có.
    3– Kế đến tự nhiên thấy làn nước mênh mông.
    4– Nếu tâm mình mà tự nhiên được thuần thục, đồng nghĩa sức hút vật lý âm dương tự nhiên rời  bỏ mình, mình liền được hút qua và vào khoảng không mênh mông vô tận.
5– Khi mình được hút vào khoảng không mênh mông vô tận đó, tự nhiên mình nghe, thấy và biết như sau:

A– Thấy mênh mông không giới hạn.
    B– Nghe được trùm khắp.
    C– Mình muốn phát ra tiếng, tự nhiên tiếng mình được vang rền trùm khắp.
    D– Biết tự nhiên không thiếu chỗ nào.
    E– Trong chỗ mênh mông trùm khắp trong sáng đó, nhờ  “Điện từ quang” tự nhiên, Điện từ quang này không phải là Điện từ Âm Dương hay Điện từ Vật lý. Nhờ Điện từ này mà các tánh Thấy, Nghe, Tiếng, Biết, được “chuyên chở” đi trùm khắp.

Vì sao các thứ trên được trùm khắp?

Xin thưa, vì nó không bị lực cản của vật lý nên được trùm khắp.

Trên đây là 5 căn bản của người tu theo Thiền tông phải biết và thực hành cho đúng thì mới có kết quả được.

Có vị lại hỏi?

– Người ham thần quyền, sợ thần linh thì không nói làm chi, còn:

– Người có học vấn cao, người uyên thâm Phật học, nếu nói không biết, tại sao hiện giờ nhiều người đứng ra dạy pháp môn Thiền tông học này?

Chúng tôi cũng xin thưa:

– Phần này, chúng tôi có đi kiểm chứng, các vị giảng là giảng pháp môn tu thiền Tiểu thừa chứ không phải là Thiền tông. Chúng tôi xin nói rõ, hiện nay những vị dạy tu là pháp môn Tiểu thừa, pháp môn Trung thừa thì có ít hơn, còn pháp môn Đại thừa hoàn toàn chúng tôi chưa tìm thấy ai tu cả, vì vậy pháp môn Thiền tông tuyệt mật này làm sao có ai biết, nếu có biết cũng không ai dám tu.

Vì sao vậy?

Vì chúng ta đang sống hoàn toàn lệ thuộc vào vật lý, còn pháp môn Thiền tông này là loại bỏ tất cả những thứ trong vật lý nên khó có người tu pháp môn này.

   Người tu theo đạo Phật phải hiểu 2 căn bản như sau:

      Một: Ai tu sử dụng những thứ trong vật lý là phải tạo nhân duyên, vì là nhân duyên nên mới có kết quả, có kết quả gọi là chứng hay đắc, có chứng hay đắc thì phải giữ lấy, vì giữ lấy nên phải theo chiều vật lý là Thành – Trụ – Hoại – Diệt, mà Đức Phật gọi là Sanh Tử – Luân Hồi!

Hai: Người “tu” pháp môn Thiền tông, là pháp môn không sử dụng bất cứ thứ gì trong vật lý cả, mà người tu chỉ cần để tâm vật lý của mình tự nhiên thanh tịnh, khi thuần thục tự nhiên được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh” trong càn khôn vũ trụ này. Khi được rơi vào trong đó, tự nhiên mình muốn biết những gì mà mình muốn, nói theo Nhà Phật là mình đã về được quê xưa của mình, còn nói theo ngôn ngữ huyền bí là “thành Phật”.

Trên đây là hai căn bản của người tu theo đạo Phật, ai muốn tu mà còn luân hồi là tu sử dụng những thứ trong vật lý; còn ai tu muốn giải thoát thì đừng sử dụng bất cứ những thứ trong vật lý, chỉ có đơn giản như vậy thôi.

Người tu theo đạo Phật hiện nay, không phải tu để giác ngộ và giải thoát, mà họ tu theo đạo Phật để tìm chức vụ, hay tìm cuộc sống an nhàn trong vật chất. Do đó, họ bị những thứ trong vật chất ràng buộc nên không thoát ra được, khi lìa bỏ cuộc đời phải đi theo chiều vật lý. Cái bệnh của người tu hiện nay, là chấp mình tu được nhiều năm để khoe với người chung quanh, để được người chung quanh kính nể. Đây là cốt lõi của vật lý này vậy.

  Mục đích của chúng tôi viết ra quyển sách này:

    Một: Nêu danh 36 vị Tổ sư Thiền tông của 3 quốc gia mà có “Mạch nguồn Thiền tông” đã đi qua.

Hai: Nêu bài kệ của Ngài Ma Ha Ca Diếp trình với Đức Phật và những bài kệ của các vị Tổ sư Thiền tông trình chỗ giác ngộ của mình trình với vị Thầy trước. Đặc biệt nhất, bài kệ Đức Phật truyền “Bí mật Thiền tông” cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, chính bài kệ này được các vị Tổ sư Thiền tông lấy làm chuẩn để truyền Bí mật Thiền tông cho những vị sau, khi vị sau đạt được Bí mật Thiền tông rồi, vị Thầy trước có bổn phận là truyền Bí mật Thiền tông lại cho vị sau nữa. Nói cho thật chính xác, dòng Thiền tông này phải chảy theo dòng riêng của nó. Vì chỗ chảy riêng đó, nên các vị Tổ sư Thiền tông nói là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài kinh điển thông thường. Còn vị nào muốn biết thật rõ tu pháp môn Thiền tông học này, xin tìm đọc một loạt các sách của chúng tôi đã xuất bản.

Muốn giác ngộ nhanh, hãy đọc:

– Tu theo pháp môn nào của đạo Phật dễ giác ngộ.

Muốn tu đúng theo pháp môn Thiền tông, hãy đọc:

1– Hành đúng phương pháp Phật dạy, chắn chắn được giải thoát.
    2– Khai thị Thiền tông.
    3– Đức Phật dạy tu Thiền tông.

    Muốn biết dòng chảy của Mạch nguồn Thiền tông, hãy đọc:

–  Huyền ký của Đức Phật và những vị ngộ thiền.

    Muốn biết tất cả những thắc mắc, hãy đọc:

– Những câu hỏi về Thiền tông, quyển 1 và 2.

Còn muốn biết Đức Phật truyền Thiền tông và quí vị Tổ sư Thiền tông ngộ đạo như thế nào, hãy đọc:

– Cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư Thiền tông Ấn Độ, Trung Hoa và Việt Nam.

Quyển sách này, tuy chỉ nói một đề tài, nhưng nó tuyệt quí vô cùng. Đầu tiên, vị đứng ra dạy pháp môn Thiền tông học này là Thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da, của nước Ca Tỳ La Vệ. Khi Ngài tu “Được rơi Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni, nên Ngài dạy pháp môn tu này. Nói theo người Trung Hoa, Ngài là vị thủy Tổ pháp môn Thiền tông học này vậy.

(Người sưu tầm biên soạn và viết ra kiêm tác giả NGUYỄN NHÂN tức Nguyễn Công Nhân)

Quyển 9: Sách trắng Thin tông
Nội dung Quyển 9 nói về việc Đức Phật dạy Tám phần tuyệt mật truyền theo dòng Thiền tông để cung cấp cho những vị Thiền tông sư và Thiền tông gia. Gồm: 1- Phật giới, 2-Tam giới, 3- Cõi trời Dục Giới, 4- Cõi trời Hữu Sắc, 5- Cõi trời Vô Sắc và nước Tịnh Độ, 6- Địa cầu ngũ thú tạp cư, 7- Cuộc đời Đức Phật bị luân hồi và thành Phật, 8- Những câu dạy tuyệt mật để lưu lại hậu thế theo dòng Thiền tông …
—> Xin trích một phần trong quyển “Sách trắng Thiền tông”

01. MỞ ĐẦU LÀ BÀI KỆ 12 CÂU CỦA ĐỨC PHẬT DẠY

Phật giới gồm có những chi?
Càn khôn Vũ trụ có chi phải tường?
Tam giới phải rõ thông đường
Người tu theo Phật rõ đường để đi.

Tánh Người phải biết là chi?
Ở trong tánh Phật có gì phải thông?
Phải rõ l
uân chuyển trong Trần
Giải thoát ra khỏi đường Trần là an.

Như Lai dạy rất rõ ràng
Không chịu tìm hiểu nói càng kiếm danh
Cứ mãi lường gạt đua tranh
Cứ đi, đi mãi loanh quanh luân hồi!

Mười hai câu kệ trên đây, là của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ông Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông tuyệt mật. Để cung cấp cho các vị Tổ Thiền tông làm căn bản về pháp môn Thiền tông học. Sau các đời Tổ sư Thiền tông truyền lại cho Thiền tông sư và Thiền tông gia làm bản gốc dạy pháp môn Thiền tông học này.
Đức Thế Tôn dạy tiếp 12 câu kệ:
Sự sống vị Phật là sao?
Sự sống Tam giới là sao phải tường?
Tu Phật phải rõ thông đường
Luân hồi sinh tử không vươn làm gì.

Tu phước là để được chi?
Tạo ra công đức làm gì phải thông?
Tu sao còn dính trong Trần?
Tu sao giải thoát mười phần phải thông?

Ngồi thiền Quán, Tưởng, Cầu mong
Nhìn trong Tam giới mà không hiểu gì
Thiền tông Phật dạy để chi?
Phải biết thật rõ hết đi luân hồi!   

PHẦN MỘTPhật giới:

– Nói không gian trùm khắp không biên giới.
– Gọi là “Bể tánh Thanh tịnh”.
– Trong Bể tánh Thanh tịnh có các phần như sau:
   Một: Điện từ Quang trùm khắp, làm sự sống cho:
1-Tánh Phật
2-Các vị Phật.
3-Cấu tạo vỏ bọc của tánh Phật.

   Hai:  Trong Phật giới có Hằng hà sa số cái Ý.
Cái Ý này tự nhiên có đầy khắp trong Phật giới.
Cái Ý này tự nó có 4 phần:
1- Lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.
2- Lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe.
3- Lúc nào cũng rung động, muốn phát ra tiếng thì có tiếng, gọi là hằng Pháp.
4-Lúc nào cũng biết, gọi là hằng Tri.

PHẦN HAI: Tam giới:
Một vùng rất nhỏ trong Càn khôn Vũ trụ phải hiểu như sau:
Một Thái dương hệ gọi là 1 Tam giới, gồm có:
– Một ngàn Thái dương hệ gọi là 1 Tiểu thiên thế giới.
– Một Tiểu thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 tỷ Tam giới, gọi là 1 Trung thiên thế giới.
Trung thiên thế giới nhân cho 1 ngàn nữa, số ra này là 1 ngàn tỷ Tam giới, gọi là Đại thiên thế giới.
Mà Như Lai nhìn thấy trong Càn khôn Vũ trụ này có Hằng hà sa số Tam thiên Đại thiên thế giới. Đồng nghĩa, đem số cát của mấy  tỷ sông Hằng ra đếm, thì số cát của mấy tỷ sông Hằng cũng không bằng số Tam thiên Đại thiên thế giới nữa, mà Tam thiên Đại thiên thế giới nó nằm trong Càn khôn Vũ trụ.
Trong 1 Tam giới có 45 hành tinh chia ra như sau:
Một: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, gọi là “Cõi Trời Vô Sắc”.
Hai/A: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương, gọi là “Cõi Trời Hữu Sắc”.
Hai/B: Trong cõi trời Hữu Sắc rực rỡ này, có 6 hành tinh rất thanh tịnh, gọi là “Lục Quốc Tịnh Độ”.
Ba: Có 11 hành tinh, cấu tạo bằng 5 màu sắc điện từ Âm Dương thật đậm, cường lực rất mạnh, nên gọi là “Cõi Trời Dục Giới”.
Bốn: Có 6 hành tinh, cấu tạo bằng “Tứ đại”: Đất – Nước – Gió – Lửa. Nơi 5 loài sống chung, tức “Ngũ thú tạp cư”, gọi là Địa cầu.
Một Tam giới mà đã có nhiều hành tinh như vậy. Ai đó bảo: Càn khôn Vũ trụ này là do họ làm ra, là không đúng sự thật.

PHẦN BA: Giải thích cõi trời Vô Sắc:
Vì sao gọi là cõi trời Vô Sắc?
– Vì cõi trời này cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc, rất thanh tịnh. Do đó, sự sống ở cõi trời này rất thanh tịnh.
Gồm có 11 hành tinh:
1- Trời Vô Lượng Nghiêm Sức.
2- Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt.
3- Trời Vô Tưởng.
4-Trời Vô Phiền.
5- Trời Vô Nhiệt.
6- Trời Thiện Kiến.
7- Trời Thiện Hiện.
8- Trời Sắc Cứu Cánh.
9- Trời Ma Hê Thủ La.
10- Trời Phi Phi Tưởng.
11- Trời Phi Phi Tưởng Xứ.
– Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Vô Sắc”.
– Người sống ở cõi trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này, vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ cũng tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
– Việc làm ở cõi Trời này có việc như sau:
Trời nam và Trời nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Trời con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Chứa trong Trung Ấm Thân này, là cái vỏ bọc tánh Phật.
Trung Ấm Thân của con người làm gì mà được vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này?
– Vì Trung Ấm Thân khi còn sống ở thế giới loài Người thích làm 3 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi thanh tịnh.
3- Ngồi thiền ép cho tâm Vật lý được thanh tịnh.
Ở thế giới loài Người, ai muốn sống nơi thanh thịnh thì thực hành ba phần nói trên. Tức tự tạo ra làn sóng nghiệp thanh tịnh. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, thì được làn sóng nghiệp do mình tự tạo ra đó, nó tự động hút đưa mình đến cõi Trời Vô Sắc này.
Một vị Trời ở cõi Trời Vô Sắc này được sanh ra như sau:
Trung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích thanh tịnh, đến với cõi Trời Vô Sắc này. Đầu tiên, phải tìm đến đôi Trời nam và nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 900 năm, 10 ngàn ngày. Sau đó, được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
Vị Trời con sống nơi cõi Trời Vô Sắc này có 4 việc làm như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Dụng công tọa thiền để thụ hưởng cái an vui kỳ diệu do mình dụng công tọa thiền mà có.
3- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Vô Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương không màu sắc.
4- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
– Tuổi thọ của loài Trời Vô Sắc này là 100 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
– Ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Vô Sắc này sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 4 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều để tạo “Nghiệp thiện”.
B-Cầu mong được sống nơi thanh tịnh.
C_Tọa thiền, dụng công ép cho thân mình khô kiệt.
D- Ép cho tâm Vật lý không còn suy nghĩ.

Ai thực hiện đúng 4 phần nói trên, khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến sống 1 trong 11 hành tinh Vô Sắc này.
PHẦN BỐN: Giải thích cõi Trời Hữu Sắc và Tịnh Độ:
Cõi Trời Hữu Sắc có 11 hành tinh:

1-Trời Đại Phạm.
2-Trời Thiểu Quang.
3- Trời Vô Lượng Quang.
4- Trời Quang Âm.
5- Trời Thiểu Tịnh.
6-Trời Vô Lượng Tịnh.
7-Trời Biến Tịnh.
8-Trời Phước Sanh.
9-Trời Phước Ái.
10- Trời Quãng Quả.
11-.Trời Nghiêm Sức.
Vị cai quản cõi Trời này gọi là “Chúa Trời Hữu Sắc”.
Người sống ở cõi Trời này gọi là Trời nam hay Trời nữ. Trời nam hay Trời nữ này vị nào cũng mang tánh Trời cả. Tánh Trời của họ là do cấu tạo bằng 12 màu sắc rực rỡ của điện từ Âm Dương nên lúc nào họ cũng thích cảnh có màu sắc đẹp.
– Việc làm ở cõi Trời này có 3 việc như sau:
1- Tự do ngao du bất cứ đâu trong hành tinh này.
2- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Hữu Sắc này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ.
3- Trời nam và Trời nữ giao hợp với nhau sanh ra Trời con để nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến.
Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
Loài Người ai muốn vãng sanh đến cõi Trời Hữu Sắc này sinh sống thì ở thế giới loài Người phải là 2 việc như sau:
1- Thích làm phước thiện thật nhiều.
2- Mơ tưởng thích sống nơi cảnh đẹp.
Vì làm được 2 phần nói trên, nên khi còn ở nơi thế giới loài Người, họ tự tạo ra làn sóng nghiệp vui tươi. Khi hết duyên sống nơi thế giới loài Người, tánh Người được biến thành là Trung Thân, nên được làn sóng nghiệp bằng điện từ Âm Dương do mình tự tạo ra đó,  tự động hút đưa Trung Ấm Thân mình đến cõi trời Hữu Sắc này.
Một vị Trời ở cõi trời Hữu Sắc này được sanh ra như sau:
Tung Ấm Thân mang vỏ bọc tánh Phật, khối nghiệp thiện, khối nghiệp thích vui tươi, đến với cõi Trời Hữu Sắc này. Đầu tiên là phải tìm đến đôi Trời nam và Trời nữ đang giao hợp, chui vào “Lỗ đen” của Trời nữ, để không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết nữa. Sau đó, Trung Ấm Thân được đưa vào “Tử cung” của Trời nữ ngủ suốt 90 năm, 1 ngàn  ngày. Sau đó được sanh ra làm 1 vị Trời con và dần dần lớn lên cũng theo chu kỳ: Thành – Trụ – Hoại – Diệt của nhân quả và luân hồi.
– Tuổi thọ của loài Trời Hữu Sắc này là 10 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, phải trở lại sống với thế giới loài Người để luân chuyển đi nơi khác.
Nước Tịnh Độ:
– Có 6 hành tinh cấu tạo bằng 12 màu sắc của điện từ Âm Dương cũng rất rực rỡ và thanh tịnh.
Vì sao gọi là nước Tịnh Độ?
– Vì nó cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rực rỡ và thanh tịnh, là nơi dạy pháp môn Thanh tịnh thiền để giúp người tu vượt ra ngoài sự cuốn hút của thế giới Vật lý Âm Dương.
Nước Tịnh Độ này có 6 hành tinh, gồm: 
1- Nước Tịnh Độ của Đức A Sơ Bệ Phật ở hướng Đông mặt trời.

2-Nước Tịnh Độ của Đức A Di Đà Phật ở hướng Tây mặt trời.

3- Nước Tịnh Độ của Đức Nguyệt Đăng Phật ở hướng Nam mặt trời.
4- Nước Tịnh Độ của Đức Diệm Kiên Phật ở hướng Bắc mặt trời.
5- Nước Tịnh Độ của Đức Phạm Âm Phật ở hướng Trên mặt trời.
6- Nước Tịnh Độ của Đức Sư Tử Phật ở hướng Dưới mặt trời.
– Vị cai quản nước Tịnh Độ này gọi là Đức Phật.
– Người sống ở các nước này gọi là Tiên nam hay Tiên nữ.
– Việc làm ở cõi Trời này có 4 việc như sau:
1- Tiên nam và Tiên nữ có bổn phận giao hợp với nhau sanh ra Tiên con, để tiếp nhận Trung Ấm Thân từ loài Người vãng sanh đến. Khi Tiên nữ thụ thai, liền đến ao hay hồ hoặc biển đẻ vào hoa sen đó 1 noãn Tiên. Thời gian sanh ra vị Tiên này là tùy theo sự làm phước và mong cầu của người này khi còn là 1 con người sống nơi thế giới loài Người, mà trong Cửu Phẩm Liên Hoa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có nói rất rõ.
2- Được đi lại tự do bất cứ đâu trong nước Tịnh Độ này.
3- Ngày nào cũng đi cúng các nơi thờ những Đức Phật quá khứ.
4- Ăn uống, là trái cây, hoa, lá và nước có sẵn đầy trong hành tinh Tịnh Độ này, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương có 12 màu sắc rất rực rỡ.
– Tuổi thọ Tiên sống ở cõi Tịnh Độ này là 1 ngàn năm so với thời gian ở địa cầu. Khi hết tuổi thọ, trước khi trở lại sống nơi thế giới loài Người thì phải qua Đức Phật A Di Đà dẫn ra ao hay hồ hoặc biển kiểm thiền, coi vị Tiên này có được giải thoát hay còn bị đi trong Lục đạo luân hồi nữa.
Bằng cách, Đức Phật A Di Đà bẻ 1 cành hoa sen đưa cho vị Tiên ấy xem, nếu vị Tiên ấy nhìn thấy cành hoa sen mà thấy được bằng tánh thanh tịnh Phật tánh của chính mình, thì vị vị Tiên ấy sẽ được Đức Phật A Di Đà xác nhận bằng câu:
     – Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”.
Rồi Đức Phật A Di Đà dạy vị Tiên này 8 phần tuyệt mật trong một Tam giới như:
1- Phật giới.
2- Số lượng hành tinh trong Tam giới.
3- Tại sao bị luân hồi.
4- Làm sao được ra ngoài vòng luân hồi.
5- Tạo ra phước đức để làm gì.
6- Tạo ra công đức để làm chi.
7- Một vị Phật được hình thành như thế nào.
8- Nhiệm vụ của một vị Phật.
Tám phần dạy nói trên, vị Tiên ấy khi đã học xong, Đức Phật A Di Đà mới đưa vị Tiên ấy trở lại thế giới loài Người, đến gần chỗ “Mạch nguồn thiền Thanh tịnh” đang phổ biến.  Nhờ vậy, khi vị này vừa nghe đến 2 tiếng “Thiền tông”, tự nhiên nhớ lại tất cả những gì mà Đức Phật A Di Đà đã dạy họ.
– Còn ở thế giới loài Người, ai muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống, thì ở thế giới loài Người phải làm 2 việc như sau:
A- Làm phước thật nhiều.
B- Ngày nào cũng mong muốn vãng sanh đến nước Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà sinh sống. Khi hết tuổi thọ sẽ được vãng sanh đến nước của Ngài.

Xem thêm trong sách

(Nhà sưu tầm Thiền học Phật giáo kiêm soạn giả Nguyễn Nhân, tức Nguyễn Công Nhân)

Quyển 10 – Huyền ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông
Nội dung 10 nói về gói Huyền ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông để các vị Tổ sư Thiền tông tiếp nối dòng Thiền, chảy qua 3 nước Ấn Độ – Trung Hoa và Việt Nam.
Tập sách huyền ký này gồm 12 chương như: Giải thích càn khôn vũ trụ, cấu trúc 1 Tam giới (tức hệ mặt trời); các hành tinh có sự sống; qui luật luân hồi nơi trái đất; hình thành một trung ấm thân; các bài văn kệ của Như Lai truyền riêng theo dòng thanh tịnh thiền; Đức Phật dạy về tập Huyền ký; những lời dạy sau cùng của Đức Phật; các vị Tổ sư Thiền tông Ấn Độ – Trung Hoa – Việt Nam; nội qui – tôn chỉ – cương lĩnh của chùa Thiền tông Tân Diệu; Đức Phật dạy riêng cho vị được phong Thiền tông gia và đặc biệt là Bài kệ sám hối dành cho người lỡ khinh chê, phỉ báng hay phá pháp môn Thiền tông của Đức Phật truyền dạy … và còn rất nhiều lời dạy khác của Đức Phật, v.v…

GIỚI THIỆU VỀ  TẬP HUYỀN KÝ:

Kính thưa độc giả:

Những người tìm hiểu hay tu theo đạo Phật, ít có người nghe đến hai danh từ “Huyền Ký” của Đức Phật dạy.

Vì sao vậy?

– Vì tập Huyền Ký này, Đức Phật dạy vào một năm sau cùng trước khi Đức Phật nhập Niết bàn. Đức Phật chỉ dạy riêng cho 15 đệ tử của Ngài là những vị đã giác ngộ “Yếu chỉ Thanh tịnh thiền” trở lên. Sau cùng, Đức Phật trao tập Huyền Ký này cho ông Ma Ha Ca Diếp, là vị Tổ Thiền tông đời thứ Nhất, nhờ vị Tổ này truyền riêng theo dòng Thiền tông. Vì vậy, các kinh điển phổ thông chúng ta không thấy tập Huyền Ký này là vậy.

Vì sao Đức Phật không truyền theo các kinh điển phổ thông?

Chúng tôi xin trích một phần nhỏ nguyên nhân mà Đức Phật dạy trong tập Huyền Ký của Ngài như sau:

Ngày xưa, tín ngưỡng của dân nước Ấn Độ chia ra làm 2 thành phần:

Thành phần thứ nhất:

* Những người bình dân họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Thượng Đế” sinh ra.

– Con người và vạn vật cũng do Thượng Đế làm ra.

– Hai bên “Vai giáp” của mỗi con người có 2 vị “Thần chấm điểm” việc làm thiện hay ác của con người.

– Khi con người chết đi, thì được các vị “Phán quan” xem việc làm thiện và ác của họ ở mức độ nào mà trình với “Vua Diêm Vương”:

– Nếu họ làm thiện nhiều, thì được Vua Diêm Vương trình lên Thượng Đế cho lên “Thiên Đàng” ở hưởng sung sướng đời đời.

– Còn làm ác nhiều, thì Vua Diêm Vương tự Ngài sai “Ngưu Đầu Mã Diện” đem giam vào các tầng Địa Ngục để trị tội.

Thành phần thứ hai:

* Những người tu hành họ tin rằng:

– Trái đất này là do “Đấng Tạo Hóa” sanh ra.

– Loài người và vạn vật cũng do Đấng Tạo Hóa làm nên.

– Họ cũng tin tưởng: Loài người sống nơi trái đất này có 2 con đường đi sau khi chết:

Một: Làm thiện thì được lên cõi Trời hưởng phước.

Hai: Làm ác phải bị đày vào Địa Ngục để thọ lãnh quả xấu do họ tự tạo ra nơi thế giới này.

Do vậy:

Dạng người tu hành thứ nhất:

– Họ chủ trương làm 2 việc như sau:

Một: Mỗi ngày phải “Sám hối” những việc làm sai trái của họ.

Hai: Cầu xin Đấng Tạo Hóa rước họ về “Nước Trời” ở để không còn bị khổ ở Thế gian này nữa.

Dạng người tu hành thứ hai: Họ tin tưởng rằng:

– Muốn hết tội lỗi do mình làm ra, duy nhất chỉ xuống sông Hằng tắm cho sạch thì mới hết tội lỗi được.

– Và nhiều tín ngưỡng khác nữa.

Trên đây là người xưa của nước Ấn Độ tin và làm như vậy.

Cũng xin nói rõ: Ngày xưa ở nước Ấn Độ mỗi vùng có một vị Vua cai quản. Ở nước Ca Tỳ La Vệ có vị Vua tên là Tịnh Phạn và vợ tên là Ma Da. Danh gọi vợ Vua là Hoàng hậu. Hoàng hậu Ma Da sanh ra được đứa con tên là Tất Đạt Đa và phong là Thái tử, để sau này tiếp nối ngôi Vua nước Ca Tỳ La Vệ này.

Khi Thái tử Tất Đạt Đa trưởng thành, Thái tử cũng có vợ con như bao nhiêu người khác. Nhưng Ngài không tin những việc làm của nhân dân cũng như những vị tu sỹ dạy. Riêng Thái tử Tất Đạt Đa có 4 cái thắc mắc như sau:

Một: Con người từ đâu đến với thế giới này?

Hai: Đến với thế giới này để rồi bị: Sanh – Già – Bệnh – Chết!

Ba: Khi còn sống, tranh giành hơn thua chém giết với nhau sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả.

Bốn: Sau khi chết rồi sẽ đi về đâu?

Bốn cái thắc mắc nói trên, những người có học vấn cao trong Hoàng triều cũng như những người ở ngoài nhân dân kể cả các vị tu sỹ có danh tiếng cũng không ai giải thích cho Ngài thỏa mãn được.

Thái tử là một con người có lòng cương quyết tìm ra cho được 4 thắc mắc của mình. Vì lòng cương quyết đó, sau cùng Thái tử cũng đã biết được.

Thái tử Tất Đạt Đa biết được bằng cách nào?

– Thái tử tu “Thanh tịnh thiền”, chứng được “Tam minh Lục thông” và “Ngũ nhãn” như sau:

– Tam minh: Ba cái sáng:

1/- Thiên nhãn minh: Thấy được khắp trong một Tam giới, mà chúng ta gọi là một Thái Dương hệ.

2/- Túc mạng minh: Biết được đầy đủ con người và vạn vật trong một tam giới.

3/- Lậu tận minh: Biết được tận cùng vật chất và tinh thần của một con người ở trái đất hay trong một tam giới này.

– Ngũ nhãn: Năm con mắt của Ngài nhìn thấy được:

1/- Nhục nhãn: Mắt thịt bình thường của Ngài.

2/- Thiên nhãn: Mắt Trời của Ngài nhìn thấy và biết được các cõi Trời trong một Tam giới như sau:

– Thấy và biết có 33 cõi Trời.

– Thấy và biết có 6 nước Tịnh Độ.

– Thấy và biết có 5 hành tinh nữa cũng giống như trái đất này.

– Thấy và biết có Hằng hà sa số các hành tinh “Vật tư” cấu tạo bằng: “Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ – Không khí và điện từ Âm Dương”.

3/- Huệ nhãnMắt Huệ của Ngài nhìn thấy và biết các cõi vô hình cấu tạo bằng điện từ Âm Dương nhiều màu sắc và không màu sắc.

4/– Pháp nhãn: Mắt Pháp của Ngài nhìn thấy và biết sinh hay diệt từng “Sát na” của hạt bụi, cũng như sinh và diệt từng hành tinh một trong một Tam giới này (Chữ sát na hiện giờ chúng ta gọi là 1/10 giây).

5/- Phật nhãn: Mắt Trùm khắp của Ngài nhìn thấy và biết được trùm khắp trong Càn khôn vũ trụ này như:

* Vật nhỏ nhất là “Vi trần”, mà chúng ta gọi là nguyên tử còn nhỏ hơn nữa là điện tử.

* Vật lớn nhất là hành tinh. Ngài sử dụng Phật nhãn nhìn thấy và biết được như sau:

* Một hệ Thái dương: Ngài gọi là một “Tam giới”.

* Một ngàn Tam giới: Ngài gọi là một “Tiểu thiên thế giới”.

* Một triệu Tam giới: Ngài gọi là một “Trung thiên thế giới”.

*  Một tỷ Tam giới: Ngài gọi là một “Đại thiên thế giới”.

Ngài dạy:

– Đem Đại thiên thế giới nhân cho 3 lần ngàn nữa, số ra này là một tỷ tỷ Tam giới, Ngài gọi số ra này là “Tam thiên đại thiên thế giới”. Mà Phật nhãn của Ngài nhìn thấy khắp trong Càn khôn vũ trụ này có “Hằng hà sa số Tam thiên đại thiên thế giới” như vậy.

Đức Phật muốn đem sự thấy và hiểu biết của Ngài nói lại cho nhân dân nước Ngài biết; nhưng khi Ngài nói ra thì nhân dân Ngài nói Ngài là người bị điên!

Vì sao nhân dân Ngài nói Ngài như vậy? Đức Phật trình bày rõ ràng như sau:

– Vì nhân dân nước Ngài tin rằng:

– Trái đất này là do ông Thượng Đế làm ra.

– Loài người cũng vậy.

– Giàu cũng là do ông Thượng Đế ban phước.

Nói tóm lại, trái đất này và sự sống trên trái đất này đều do ông Thượng Đế quyết định cả.

Khi Thái tử Tất Đạt Đa tu Thanh tịnh thiền chứng được “Tam minh Lục thông” và có “Ngũ nhãn” nên Ngài thấy và biết như nói ở trên, nhưng không cách nào nói cho nhân dân của Ngài chấp nhận.

Khi Đức Phật trở về Hoàng cung thăm vua Cha và có ý độ những người trong Hoàng cung, nhưng khi Đức Phật nói ra không ai chấp nhận. Trong Hoàng cung, có Hoàng thúc của Ngài tên là Tịnh Thanh gay gắt hỏi như sau:

– Con nói, con xuất Hoàng cung tu hành nay được thành đạo. Vậy, con lấy gì làm bằng chứng?

Đức Phật lễ phép trình thưa với Hoàng thúc rằng:

– Kính thưa Hoàng thúc, con xuất Hoàng cung tu Thanh tịnh thiền chứng được Tam minh Lục thông và Ngũ nhãn.

Hoàng thúc Tịnh Thanh hỏi:

– Vậy, con hãy chứng minh cho Hoàng thúc và những người trong Hoàng cung những gì mà con biết?

Đức Phật trình với Hoàng thúc Tịnh Thanh:

– Con xin trình bày cái thấy và biết của Phật nhãn của con như sau:

Một: Trên trái đất này, không vật gì thoát ra ngoài qui luật: Thành – Trụ – Hoại – Diệt được.

Hai: Tất cả động vật và thực vật sinh sản ra phải qua công thức vật lý Âm Dương.

Ba: Không vật gì đứng yên một chỗ, mà nó phải luân chuyển thì mới tồn tại được.

Còn Hoàng thúc cũng như những người trong Hoàng triều và nhân dân nước Ca Tỳ La Vệ tin rằng:

– Trái đất.

– Loài người.

– Vạn vật, v.v…

Là do ông Thượng Đế sinh và làm ra, con xin trình cho Hoàng thúc biết:

– Trong mỗi một Tam giới có 1 ông Thượng Đế cai quản nước trời Thượng Đế; mà trong Càn khôn vũ trụ này có Hằng hà sa số ông Thượng Đế. Con sử dụng Phật nhãn của con quan sát thấy ông Thượng Đế chỉ là một ông trời làm chúa ở cõi trời Thượng Đế,  ông  cũng  bị  luân  hồi  như  bao  nhiêu  người trời khác. Giống như Phụ vương con vậy, tuy Phụ vương làm vua của nước Ca Tỳ La Vệ này, nhưng Phụ vương con cũng bị: Sinh – Lão – Bịnh – Tử như người dân thường vậy, chứ đâu có nằm ngoài qui luật này được.

Hoàng thúc Tịnh Thanh nghe Thái tử Tất Đạt Đa trình bày một cách hết sức thuận lý, nên ông tâm phục khẩu phục và khen:

Thật con có sự hiểu biết hơn người, con được xứng đáng là một con người “Đại giác ngộ”.

Vậy, Hoàng thúc tặng con mấy chữ:

Tất Đạt Đa hiểu biết hơn người
Hoàng thúc khẩu phục, có lời khen con
Tâm Thúc đã rõ không còn
Tin tưởng Thần Thánh, nhờ con trình bày.

Thần Thánh Hoàng thúc hiểu sai
Nay con khai thị, hiểu ngay thế trần
Hoàng thúc đại diện người Thân
Cám ơn con dạy, Thúc lần hiểu ra.

Nay con là Phật Thích Ca
Dạy cho Hoàng thúc hiểu ra rõ ràng
Trần gian là chỗ buộc ràng
Luân chuyển vật lý vô vàn khổ đau.

Thúc nay không biết nói sao
Cám ơn con dạy, đường vào vô sanh
Hoàng thúc nói lại rõ rành
Đạt Đa thành Phật, rõ rành không sai.

Hoàng thúc Tịnh Thanh đọc tặng Thái tử Tất Đạt Đa 16 câu kệ, nói lên ông đã hiểu Thái tử Tất Đạt Đa nay đã thành Phật.

Đức Phật liền tặng lại Hoàng thúc Tịnh Thanh 12 câu kệ như sau:

Lần đầu khai thị Hoàng cung
Hoàng thúc nhận được con mừng và vui
Con người vì bởi cái Tôi
Vì Tôi là Ngã, ngàn đời u mê.

Mừng thay Hoàng cung con về
Hoàng thúc hiểu được đường về quê xưa
Con chúc Hoàng thúc sớm trưa
Sống với Phật tánh, không ưa luân hồi.

Con tặng Hoàng thúc chữ “Thôi”
Thôi đi tất cả luân hồi không theo
Thiền Thanh thanh tịnh khó theo
Mong Thúc “Thôi” được, hiểm nghèo trầm luân.

Hoàng thúc Tịnh Thanh vừa nghe cháu mình tặng 12 câu kệ xác nhận mình đã hiểu đạo Thanh tịnh thiền, tự nhiên ông rơi nước mắt và nói với cháu:

– Thúc hết sức cám ơn con, Thúc cố gắng thực hiện lời con dạy.

Ông nói trong lời nghẹn ngào, làm những người trong Hoàng cung ai cũng muốn khóc theo.

Trong cuộc đối đáp này có ông quan Nghi lễ Thiện An, có trình thưa hỏi Thái tử Tất Đạt Đa như sau:

– Kính  thưa  “Đấng  Gô-Ta-Ma”,  tức  “Đấng  Đại Thông Đại Giác”, chúng tôi nghe lời trình bày của Ngài hết sức là phải. Vậy, Ngài quyết định phổ biến pháp môn Thanh tịnh thiền này như thế nào?

Đức Phật trả lời:

– Hầu hết nhân dân ai cũng:

– Cầu khẩn Thượng Đế:

– Ban phước.

– Xin làm con của Thượng Đế.

– Xin về nước Thượng Đế ở.

– V.v…

Đức Phật nói tiếp:

– Còn một số nhân dân nữa suốt ngày cứ: Cầu khẩn Thần linh. Lạy ông Thần này bà Thánh nọ. Để xin lộc.

– Thậm chí những con thú như: Trâu – Bò – Cọp, v.v… mà cũng lập Miếu thờ những con thú này nữa, thật là ngu khờ thì làm sao Tôi nói chân thật này cho họ biết được.

Ông quan Nghi lễ Thiện An nói:

– Thật là khó!

Đức Phật tiếp lời:

– Vì quá khó, nên Tôi sẽ phổ biến bằng 2 cách: Một là, Tôi dạy cho loài người biết 5 pháp môn dụng công tu hành có thành tựu trong vật lý để họ ham mà đến tu học.

Năm pháp ấy như sau:

1/- Thiền Quán, Tưởng, Cầu mong: Vật nhỏ ra lớn, hoặc ít ra nhiều.

2/- Lý luận để hơn mọi người.

3/- Thiền Nghi, Tìm hay Kiếm hữu dụng vật chất nhỏ nhất hay lớn nhất.

4/- Niệm Phật để nhìn thấy hình bóng ảo của một vị Phật.

5/- Niệm Chú để thấy sự chuyển biến của vật chất để người xung quanh cho là linh thiêng.

Tôi quan sát trong số đông người này, có người nào muốn biết sự thật và vượt ra ngoài luân hồi sinh tử, thì tôi sẽ tìm cách dạy riêng họ trở về Phật giới. Nhờ 5 pháp môn tu hành có thành tựu trong vật lý, mà đạo của Tôi mới lưu truyền đến đời Mạt pháp được.

Ông quan Nghi lễ Thiện An lại hỏi:

– Kính thưa Đấng Gô-Ta-Ma, vì sao Ngài phải đợi đến đời Mạt pháp mới cho loài người biết?

Đức Phật dạy:

– Vì đầu óc loài người vào đời Mạt pháp họ rất thông minh. Đặc biệt, họ có 9 phần thông minh như sau:

1/- Họ chế tạo ra phương tiện quan sát thấy rõ ràng gần hết một Tam giới mà Tôi sử dụng Thiên nhãn để thấy. Họ nhìn thấy Hằng hà sa số các hành tinh Ngũ hành trong Tam giới này nữa.

2/- Họ chế tạo ra khí cụ giết người hằng loạt.

3/- Họ chế tạo ra phương tiện di chuyển trên không nhanh hơn chim và chuyên chở được rất nhiều người.

4/- Họ chế tạo ra phương tiện di chuyển trên mặt nước rất nhanh, chuyên chở hằng ngàn người vượt đại dương một cách dễ dàng. Họ còn chế ra phương tiện di chuyển dưới mặt nước nữa.

5/- Trên đường bộ: Họ chế tạo ra xe chạy rất nhanh, gấp trăm lần những con thú chạy nhanh nhất trên mặt đất hiện giờ.

6/- Tiếng nói: Người đứng góc trái đất này nói cho người đứng ở góc trái đất bên kia nghe như 2 người đứng gần nhau vậy.

7/- Dụng cụ cứu người: Họ chế ra dụng cụ rất tinh vi, có thể thay thế từng bộ phận trong con người, khi bộ phận của con người nào đó bị hư hoại.

8/- Thuốc cứu người: Họ chế ra thuốc men cứu người bệnh nặng rất dễ.

9/- Họ chế ra bom đạn hủy diệt trái đất này dễ như phá một cái đồi nhỏ vậy!

Vì khi con người đã văn minh lên cao như vậy rồi, thì tập Huyền Ký này sẽ có người công bố ra. Nhờ vậy, trong số người văn minh này mới có người chấp nhận và tu tập theo lời dạy của Tôi.

Tôi cũng nói cho các ông rõ:

– Khi lớn tuổi, Tôi sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dạy đầy đủ những gì mà Tôi sử dụng Ngũ nhãn thấy và biết. Trong bộ kinh này, Tôi có dạy một “Long Nữ thành Phật”, tức một người Nữ tại đất “Rồng” nhận được tập Huyền Ký của Tôi truyền bá công thức giải thoát.

Nhờ công thức giải thoát này, mới cứu vớt một phần nhỏ loài người trở về Phật giới để không còn:

– Sanh – Lão – Bệnh – Tử nữa.

– Không còn luân hồi trong Tam giới nữa.

– Không còn làm Trung Ấm thân để chịu cảnh đói khát nữa

Tôi cũng nói về tập Huyền Ký này:

– Khi tập Huyền Ký này đã công bố ra, thì có rất nhiều người ngăn cản.

Vì sao vậy?

– Vì trong tánh của con người có đến 16 thứ, trong đó có cái “Tưởng” là mạnh nhất. Vì cái Tưởng này, mà con người Tưởng tượng ra đủ chuyện trên đời, mục đích chánh là Tiền và Danh, chớ không ngoài gì khác.

Vì con người bị dính cứng vào hai thứ này, nên nghe nói đến Giải thoát không ai chịu nghe chớ nói chi là tu. Chính cái ham muốn của con người, nó là “Ma Vương” đó.

Đến đời Mạt pháp, tập Huyền Ký này được công bố ra, nó phá đi tất cả những ham muốn của con người. Vì vậy, những người tu hành mà:

– Ham muốn nhiều, thấy tập Huyền Ký này là họ xé bỏ ngay!

– Ham muốn vừa, thấy tập Huyền Ký này là tìm cách ngăn cản không cho lưu hành ra.

– Ham muốn ít, thấy tập Huyền Ký này là họ chửi liền.

Trên đây là căn bản của người tu hành khi nhìn thấy tập Huyền Ký.

 

LỜI SOẠN GIẢ

– Riêng phần chúng tôi, phổ biến tập Huyền Ký này ra chỉ nêu 60% thôi, không dám nêu đầy đủ.

Vì sao vậy?

– Vì nếu ghi đầy đủ, thì bị đảo ngược nhiều thứ mà con người làm từ trước đến nay!

Nguyện ước của chúng tôi viết ra tập Huyền Ký này có 3 mục đích chánh như sau:

1/- Giúp cho người tu theo đạo Phật biết Giác ngộ là gì.

2/- Giúp cho người tu theo đạo Phật biết Giải thoát để đi về đâu.

3/- Giúp cho người tu theo đạo Phật biết Công thức trở về Phật giới.

Sau cùng, chúng tôi có lời đề nghị với độc giả 3 phần:

Một: Tập Huyền Ký này, Đức Phật dạy cách đây gần 2.600 năm, trải qua rất nhiều Nhà dịch, không biết có đúng với bản gốc hay không.

Hai: Độc giả đọc tập Huyền Ký này, xin hãy đọc bằng tâm thanh tịnh và sáng suốt của chính mình.

Ba: Đừng tin liền mà phải suy xét cho thật kỹ.

– Tập Huyền Ký này có 12 chương, mỗi chương dạy một đề tài.

– Một số căn bản về Nhân sinh và Vũ trụ.

– Một số câu của Đức Phật trả lời cho các môn đồ của Đức Phật thắc mắc.

Vậy,  kính  mời  độc  giả  vào  đọc  các  chương trong tập Huyền Ký mà Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông.

(Người sưu tầm thiền học Phật giáo – soạn giả Nguyễn Nhân.)

Quyển 11: Đức vua Trần Nhân Tông dạy con cách giữ nước, Công thức Giải thoát …
Nội dung quyển 11 nói về Đức vua Trần Nhân Tông dạy con cách giữ nước, tín ngưỡng trong thờ cúng, công thức giải thoát và sự thật nơi trái đất này, cũng như dạy những phần tuyệt mật của Đức Phật Thích Ca để lại cho hậu thế được truyền theo dòng Thiền tông. Ngoài ra, sách còn có bài Kinh Tiễn Phật gia Thiền tông về Phật giới rất hay và ý nghĩa. Chưa từng thấy ở bất cứ đâu …
Quyển 12
Quyển 13
Quyển sách hay: SÁU PHÁP MÔN TU CÓ THỦ ẤN CỦA ĐẠO PHẬT
Nội dung quyển sách nói về : Đạo Phật có 6 pháp môn tu gồm:
1. Pháp môn Tiểu thừa.
2. Pháp môn Trung thừa.
3. Pháp môn Đại thừa.
4. Pháp môn Tịnh độ.
5. Pháp môn Niệm chú.
6. Pháp môn Thiền tông.
Mỗi pháp môn đều có phương pháp tu, thành tựu riêng và cách thờ của từng pháp môn đó.
Để giúp cho quý độc giả và Phật tử gần xa hiểu được các thức tu từng pháp môn sao cho đúng, mỗi pháp môn thành tựu được gì cũng như phong cách thờ của từng pháp môn là như thế nào?…
hỗ trợ sách: điện thoại, 0988.595.159 (zalo, viber, sms, gọi) (Thưa Quý vị, trang daophatthientong.net mục đích là sưu tầm và chia sẻ các bài viết, giải đáp về Đạo Phật Thiền Tông. Đặc biệt, xin chia sẻ cùng những ai muốn Giác ngộ và Giải thoát, hoặc muốn tìm hiểu những điều cốt tủy Đức Phật dạy. Quý vị xem trang mà mà muốn hỏi sách có thể liên hệ mình hỗ trợ - điện thoại, 0988.595.159 (zalo, viber, sms, gọi)

5 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây